KERTESZ IMRE VÀ DI SẢN VĂN HỌC DO THÁI

người điểm sách : Giáp Văn Chung

Đối với một người bình thường, đứa con chính là tương lai. Quyết định một số phận vô sinh chính là sự chấp nhận không có tương lai. Nhưng nhà văn, ở đây cũng là người kể câu chuyện Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời (*), người đã trải qua địa ngục trần gian Auschwitz, sau những dằn vặt đau đớn đã quyết định không sinh con.



 
Bìa ấn bản tiếng Việt  

Câu chuyện mở đầu và xoay quanh một lời đáp “Không!” của người kể chuyện – một người đàn ông trung niên sống sót sau thảm họa Holocaust, trở thành một nhà văn bình thường trải qua nhiều thất bại – cho doctor Obláth, nhà thông thái, trong một cuộc đi dạo trong khu rừng gần một nhà nghỉ mà thực chất họ đến đây để sáng tạo, khi ông này hỏi nhà văn có con hay không.

Trong một buổi gặp mặt những người Do Thái sống sót sau thảm họa Holocaust, nhà văn đã gặp người vợ tương lai của ông. Nàng cũng là người Do Thái, cha mẹ nàng từng là những nạn nhân của Auschwitz. Nàng chỉ tìm thấy câu trả lời khả dĩ về những nỗi ngờ vực luôn dằn vặt nàng qua một truyện ngắn trước đó của nhà văn mà nàng từng đọc.

Trong dòng ký ức triền miên, nhà văn đã tái hiện một số hình ảnh trong cuộc sống chung của hai người, đồng thời miêu tả quá trình trong đó ông dần dần rơi vào tình trạng chịu ảnh hưởng sự “giám sát” của vợ, và hậu quả là việc ông đã làm mọi cách để không đánh mất sự độc lập của bản thân, trong đó có tự do sáng tạo. Như vậy Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời cũng kể lại quá trình dẫn đến sự chia tay của hai người.

Tiếng “Không!” mà nhà văn đáp lại câu hỏi của doctor Obláth cũng là tiếng “không” trả lời cho người vợ đang khao khát có con của ông, sau đó là sự giải thích, thuyết phục cho tiếng “không” ấy – sự chấp nhận vô sinh – bằng hệ thống lý lẽ lặp đi lặp lại, chồng lớp, bằng những suy tư, tìm tòi, đào bới đến cùng sự thật trong suốt cuốn tiểu thuyết.

Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời vì vậy chính là quá trình nhìn lại quá khứ, sự tái hiện mang tính tự sự về những gì đã xảy ra trong cuộc đời nhà văn. Câu chuyện với “nhà thông thái” thực chất cũng là sự hồi tưởng của nhà văn, qua đó ông nhớ lại những sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời mình, và quá trình đi đến quyết định dứt khoát thốt ra tiếng “Không!” đau đớn xuyên suốt tiểu thuyết kia.

Đọc Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời, thoạt tiên người đọc có cảm giác bị đưa vào một mê hồn trận: ý tứ trùng lắp, câu văn dài lê thê, vòng vèo, có khi từng đoạn phản nghĩa nhau, vừa khó hiểu vừa khó nắm bắt ý tưởng đích thực. Để tiếp cận lối hành văn mới lạ và cách tư duy của Kertész, một “lối viết chẳng giống ai” cũng “không thể bắt chước nổi” này, chúng ta phải tìm đến với nghệ thuật âm nhạc cổ điển.

Cách viết, hay nói cách khác là văn phong, ngôn ngữ của tác phẩm này chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong cách âm nhạc Fuga (fugue), còn gọi là tẩu khúc hay tẩu pháp, một trong những dạng quan trọng nhất của các thể loại đối âm (counterpoint), một thể loại âm nhạc đa bè, đa âm, cầu kỳ, đã phát triển qua hàng trăm năm và đạt tới đỉnh cao trong thế kỷ 18, đặc biệt trong các tác phẩm của Johann Sebastian Bach và George Friderich Handel.

Bản chất của thể loại âm nhạc này là sự lặp lại, đuổi nhau của nhiều âm, nhiều bè qua nhiều nhịp trong một tiết nhạc ngắn hay một chương dài hơn, có thể nói bè nọ đuổi bè kia liên tục trên nền của những âm thanh khác gần gũi với nó.

Cách viết ảnh hưởng của thể loại nghệ thuật này nhiều khi câu văn cuồn cuộn, lại thường trùng lặp, được nâng cấp độ lên dần dần, có khi bị níu kéo lại. Nhà văn thường xuyên luận nghĩa, giải thích, phản ứng, đúng như trong tác phẩm ông đã viết: “… không thể né tránh những lời giải thích, chúng ta thường xuyên phân bua và giải thích, cuộc sống cũng đòi hỏi chúng ta lời giải thích, cái hiện tượng và cảm thức phức hợp không thể giải thích này, môi trường của chúng ta đòi hỏi lời giải thích, và cuối cùng chúng ta đòi hỏi lời giải thích từ chính chúng ta…”.

Như thế, Kertész Imre đã khai thác phương pháp truyền thống của dòng văn học Do Thái. Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời không chỉ gắn bó với truyền thống Do Thái về mặt định danh thể loại nghệ thuật (như kinh cầu đọc cho người đã khuất), mà cả trên phương diện cấu trúc cũng trung thành với những di sản văn học Do Thái.
____
(*) Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời – tác giả Kertész Imre (Nobel văn chương 2002), Giáp Văn Chung dịch từ nguyên tác tiếng Hungary, NXB Lao Động và Nhã Nam phát hành 2011.

nguon : sachhay.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s