THƯ GỬI NGUYÊN CHẨN

tạp văn của Bạch Cư Dị
chuyển ngữ : Nguyễn Khắc Phi

Bạch Cư Dị (772 – 846) tự Lạc Thiên, cuối đời có hiệu là Hương Sơn cư sĩ, chánh quân ở Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, sinh quán ở Tân Trịnh, tỉnh Hải Nam. Ông không chỉ là nhà thơ hiện thực nổi tiếng để lại nhiều tác phẩm nhất ở đời Đường mà còn là một nhà phê bình, lí luận văn học xuất sắc. Quan điểm lí luận văn học của ông thể hiện một cách rải rác trong nhiều nhà thơ tặng đáp, được nêu lên một cách khá rõ nét trong lời Tựa của 2 tập thơ Tần trung ngâm (1), Tân nhạc phủ (2) và đặc biệt đã được trình bày một cách có hệ thống trong bức thư gửi cho người bạn gần gũi nhất của mình là Nguyên Chẩn (3).


Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), vì dâng sớ xin bắt bọn thích khách tay sai của phiên trấn Lí Sư Đạo giết tể tướng Vũ Nguyên Hành, Bạch Cư Dị đã bị bọn quyền quý oán giận và bị biếm về làm Tư mã ở Gi­ang Châu. Sự kiện này đã giáng một đòn nặng nề xuống nhà chính trị – nhà thơ – nhà lí luận vốn đang ủ ấp bao ước vọng đẹp đẽ, lành mạnh. Từ đây, trong tư tưởng và tâm hồn Bạch Cư Dị bắt đầu xuất hiện nhân tố tiêu cực. Tuy vậy, trong thời gi­an ở Gi­ang Châu, ông đã để lại được 2 tác phẩm bất hủ là Tì bà hành Thư gửi Nguyên Chẩn.

Trong bức thư, kế thừa là những thành tựu lí luận tiến bộ trước đó, Bạch Cư Dị đã đề xuất được luận điểm nổi tiếng : “Sáng tác văn chương cần phải vì thời thế, làm thơ cần phải vì sự việc”. “Vì thời thế” không có nghĩa là thích ứng một cách tiêu cực mà phải có tác động tích cực, cụ thể là phải giúp “sửa chữa sai lầm”, “trị bệnh cứu người”. “Vì sự việc” thực chất là phải phản ánh đúng thực tế để “mở rộng tai mắt bề trên”, giúp “bề trên nghe thấu nỗi khổ của dân tình ở dưới”. Muốn thực hiện được sứ mệnh cao cả ấy, nhà thơ phải đọc nhiều sử sách để “truy tìm cái lẽ trị đời”, phải gi­ao tiếp rộng để hiểu sâu “ tình hình thời sự”, đặc biệt là phải có thái độ khen chê rạch ròi, đúng đắn, nhất là tinh thần “phúng thích”. Thấy tầm quan trọng hàng đầu của tư tưởng, tình cảm của tác giả, nội dung của hiện thực được phản ánh, Bạch Cư Dị không hề hạ thấp vai trò của nghệ thuật. Ông đã thấy được sự thống nhất giữa nội dung và hình thức : “Gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa âm thanh, quả là ý nghĩa” (Căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa). Sự lý giải ấy càng có ý nghĩa đối với thơ, ở đó tình cảm quả là “gốc” và “ngôn ngữ”, “âm thanh” là hai chất liệu đặc trưng.

Trên cơ sở nhận thức như trên về bản chất và sứ mệnh của văn học, Bạch Cư Dị đã đánh giá toàn bộ thơ Trung Quốc từ Kinh Thi đến thơ ca đương thời. Với cách nhìn mang màu sắc duy vật, ông cho rằng qua thơ ca có thể thấy được tình hình lịch sử qua các gi­ai đoạn. Ông đề cao những tác phẩm giàu tính hiện thực và tinh thần phê phán, đặc biệt là Kinh Thi và những bài thơ có thể mệnh danh là “thi sử” như Tam lại của Đỗ Phủ. Ông đã phê phán mạnh mẽ khuynh hướng hình thức chủ nghĩa ngày càng phát triển dưới thời Lục Triều. Với những nhà thơ tiền bối nổi tiếng như Đào Tiềm, Lí Bạch, cả Đỗ Phủ, ông đòi hỏi rất cao và thẳng thắn nêu ra những điều mình thấy chưa hài lòng. Thái độ trên vẫn nhất quán khi nhà lí luận xem xét tác phẩm của chính mình. Ông cho thơ phúng dụ là có giá trị nhất vì đã nói lên được nỗi khổ của dân chúng, đã phơi bày được những ung nhọt của xã hội, khiến cho bọn quyền quý phải giận dữ, thậm chí phải sợ hãi “mặt biến sắc”. Ông cũng đã đánh giá chuẩn xác cống hiến biên soạn tuyển tập thơ ca của họ. Đó là những đóng góp nổi bật về mặt phê bình và lí luận của bức thư.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do được viết đúng vào thời điểm có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời của Bạch Cư Dị (815), bức thư không khỏi có những hạn chế và mâu thuẫn, thậm chí còn có một số nét tiêu cực. Nhấn mạnh mối liên hệ giữa xã hội và văn học, tác động tích cực của văn học đối với xã hội là đúng song ở một số chỗ, tác giả đã lí giải một cách phiến diện hoặc đơn gi­an. Chỉ ra ý nghĩa xã hội của những hình ảnh thiên nhiên trong Kinh Thi được xây dựng bằng các thủ pháp tỉ, hứng là có cơ sở, song từ đó cho rằng thiên nhiên không thể tồn tại như một đối tượng thẩm mĩ độc lập rồi phê phán một cách quá khắt khe những vần thơ viết về thiên nhiên nổi tiếng thời Lục Triều lại là chưa thật thỏa đáng. Việc nhà thơ tự chia thơ mình thành 4 loại không phải là không có cơ sở song rõ ràng tiêu chí phân loại không nhất quán, giữa các loại không phải không có những điểm tương thông. Ông đã chỉ ra một cách khá chính xác hai mặt mâu thuẫn trong tư tưởng của chính mình (kiêm tế, độc thiện) song rõ ràng là cũng không thỏa đáng khi ông khái quát rằng hai mặt mâu thuẫn đó thể hiện thành mâu thuẫn giữa chí (tư tưởng) và hành (hành động)…

Mặc dù có những hạn chế trên, Thư gửi Nguyên Chẩn vẫn là tác phẩm thế hiện được một cách đầy đủ nhất cơ sở lí luận của phong trào sáng tác Tân nhạc phủ tiến bộ đương thời, vẫn là một công trình lí luận giữ một địa vị hết sức quan trọng trong lịch sử phê bình văn học của Trung Quốc.

Trong lúc dịch, chúng tôi đã dựa vào văn bản và chú thích ở cuốn Trung Hoa họat diệp văn tuyển (Hợp đính bản 1 – 20, Trung Hoa thư cục, Thượng Hải, 1962). Xin chân thành cảm ơn GS Trương Chính đã cho mượn bản dịch Dữ Nguyên Cửu thư ra văn bạch thoại của Hoắc Tùng Lâm (trong cuốn Bạch Cư Dị thi tuyển dịch, Bách Hoa văn nghệ xuất bản xã, Thiên Tân, 1959, tr. 273 – 281) để đối chiếu những chỗ cần thiết. Bản dịch chắc không khỏi có chỗ khiếm khuyết, rất mong được bạn đọc chỉ giáo.


Người Dịch

Ngày … tháng …, Cư Dị xin có lời bày tỏ cùng anh (4) Vi Chi :

Từ dạo bị giáng chức đến vùng Gi­ang Lăng (5) xa xôi tới nay, anh đã hạ cố gửi cho tôi hơn một trăm bài thơ tặng đáp rồi. Mỗi bài gửi tới, anh đều gia ơn viết lời Tựa hoặc chỉ ghi mấy dòng thư ở trước để bàn luận ý nghĩa của thơ ca xưa nay, lại còn tự trình bày lí do viết, viết vào năm tháng nào. Nhận được thơ, lại hiểu ý tứ của anh qua thư, tôi vẫn thường mong đáp lại, định sơ bộ bàn về những việc chung của thơ ca, đồng thời trình bày ý kiến của mình về việc làm văn rồi đưa cả vào một bức thư gửi tới anh. Hiềm vì mấy năm qua công việc quá bận, rất ít lúc rãnh rỗi. Ngẫu nhiên gặp lúc rãnh rỗi cũng định viết, song tự nghĩ, những điều mình sẽ trình bày cũng chẳng có gì khác ngoài ý kiến của anh nên nhiều lần vừa hạ bút viết lại thôi, rốt cuộc mãi cho đến nay vẫn không toại nguyện. Giờ đây mang tội đến Tầm Dương (6) chờ bề trên xem xét, trừ việc chải đầu, rửa mặt và ăn ngủ ra, chẳng có việc gì khác ; nhân dịp đó có xem 26 tập thơ cũ và mới của anh để lại lúc ra đi Thông Châu (7), cứ mở ra là sung sướng như bỗng được gặp mặt. Lập tức muốn tuôn ra những lời chất chứa trong lòng song cứ ngờ ngợ, không hay là chúng mình còn cách xa nhau vạn dặm ! Thế là bao nỗi phẫn uất phiền muộn tuôn trào, bèn nhớ lại ý định trước đây, cố gắng viết bức thư này, dám mong anh lưu ý xerm xét kĩ cho.

Ôi, văn chương có từ lâu lắm rồi ! Tam tài (8) đều có văn riêng của mình. Văn của Trời thì Tam quang (9) đứng đầu ; văn của Đất thì Ngũ tài (10) đứng đầu ; văn của Người thì Lục kinh (11) đứng đầu ; nói về Lục kinh thì Kinh Thi đứng đầu. Vì sao vậy ? Thánh nhân cảm hóa được lòng người thì thiên hạ thái bình. Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ thì gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa. Trên từ bậc thánh hiền, dưới đến kẻ ngu si, nhỏ bé như lợn cá, thần bí như quỷ thần, chủng loại bất đồng nhưng tinh thần tương tự, hình trạng khác biệt nhưng tình cảm tương thông, không một thứ gì nghe được âm thanh mà không đáp ứng, không một thứ gì tiếp nhận được tình cảm mà không rung động.

Thánh nhân hiểu rõ đạo lí đó. Nhờ ngôn ngữ mà quán xuyến cả lục nghĩa (12), nhờ âm thanh mà lồng dệt được ngũ âm (13). Âm có vần, nghĩa có loại (14), vần hài hòa thì ngôn ngữ lưu loát, ngôn ngữ lưu loát thì âm thanh dễ vào, nghĩa loại phân minh thì tình hiện rõ, tình hiện rõ thì dễ lay động lòng người. Do đó mà bao hàm được mọi cái to lớn, sâu rộng, xuyên thấu được mọi thứ tinh vi, kín đáo, trời đất tương thông nên khí tượng thanh bình, mừng lo gi­ao hòa nên trăm lòng yên vui. Ngũ đế, Tam hoàng (15) sở dĩ có thể nhằm đường thẳng mà đi, buông áo chắp tay mà trị vì được thiên hạ là do biết giương cao đạo lí đó làm quyền lực, giữ chặt nó làm bảo bối.

Cho nên nghe lời ca “Nhà vua anh minh biết bao, bề tôi hiền lương biết bao” (Nguyên thủ minh, cổ quăng lương) (16) là biết được đạo lí triều Ngu hưng thịnh ; Nghe lời ca “Năm anh em đợi chờ ở sông Lạc, sông Nhuệ” (Ngũ tử Lạc, Nhuệ) (17) là biết nền chính trì của nhà Hạ hủ bại. Người nói không có tội, người nghe phải biết lấy đó làm răn, người nói, người nghe đôi bên đều phải hết lòng.

Đến khi nhà Chu suy, triều Tần hưng thịnh, chức Thái thi quan (18) bị phế, trên không lấy thơ ca để xem xét chỗ hay dở của triều chính, dưới không biết dùng thơ ca để thổ lộ nhân tình, đến nỗi phong khí xiểm nịnh dấy lên, đạo lí sửa chữa sai lầm bị tước bỏ, do đó, lục nghĩa bắt đầu bị xói mòn.

Quốc phong biến thành Tao từ (19); thơ ngũ ngôn bắt đầu từ Tô, Lí. Hai nhà thơ Tô Vũ, Lí Lăng đều là người bất hạnh, điều đó liên quan tới tư tưởng tình cảm của họ khi phát ra thành thơ. Cho nên, câu thơ Hà lương (20) là dừng lại ở mối sầu li biệt, “lời ngâm bên ao đầm” (Trạch bạn chi ngâm) (21) là thể hiện nỗi oán hờn : đều là những điều bàng hoàng, uất ức, chẳng còn gì khác. Tuy nhiên, vì cách Kinh Thi chưa xa, cái đại thể vẫn còn, cho nên để gợi lên mối sầu li biệt họ ví với hình ảnh đôi vịt trời và con chim nhạn cô độc (22), để nói về kẻ quân tử, tiểu nhân, họ ví với hình ảnh cỏ thơm và chim ác (23). Tuy nghĩa loại không còn hoàn bị nữa song vẫn còn giữ được hai ba phần mười so với tinh thần những người làm Quốc phong ; Lục nghĩa, do đó, bắt đầu bị tàn khuyết. Tấn, Tống (24) về sau, số đạt được như thể càng ít. Uyên bác, sâu kín như Khang Nhạc (25), thường vẫn chìm đắm vào cảnh sơn thủy, thanh cao, chất phác như Uyên Minh (26), lại buông thả vào cảnh điền viên. Cánh Gi­ang Yêm, Bão Chiếu (27) cũng chỉ bó hẹp trong khuôn khổ ấy. Được như Ngũ y ca của Lương Hồng (28), trăm bài e không chọn nổi một hai. Lục nghĩa, do đó, dần suy vi, thoái hóa.

Đến khoảng giữa Lương, Trần (29), chẳng qua chỉ còn loại đùa gió tuyết, dỡn cỏ hoa nữa mà thôi ! Than ôi ! Gió tuyết cỏ hoa, ba trăm thiên trong Kinh thi nào có bị vứt bỏ ? Hãy xem nó đã dùng như thế nào thôi ! Ví như, “Lạnh lung thay gió bắc” (Bắc phong kì lương) (30) là mượn gió để phúng thích sự bạo ngược của uy quyền, “Mưa tuyết rơi tả tơi” (Vũ tuyết phi phi) (31) là qua cảnh tuyết bay để nói lên long thương xót kẻ binh dịch, “Hoa cây đường lệ” (Đường lệ chi hoa) (32) là dùng cảm xúc về hoa mà nói bóng bảy về tình an hem, “Xa tiền tươi tốt” (Thái thái phù dĩ. Có người giải thích “thái” là “hái” nên có thể dịch : “Hái, hái xa tiền” NPK) (33) ca ngợi cây cỏ để nói lên niềm vui sinh con đẻ cái. Tất cả đều khởi hứng từ vật này mà quy ý nghĩa vào chỗ khác ; làm ngược lại, có nên chăng ? Thế thì những câu thơ như “Ráng chiều tàn tản ra thành gấm, Sông lặng trong như tấm lụa ngà” (Dư hà tán thành ý, Trừng gi­ang tịnh như luyện) (34) “Hoa rời cuống trước hãy vỗ về sương, Lá lìa cành thoắt đà từ biệt gió” (Li hoa tiên ủy lộ, Biệt diệp sạ từ phong) (35) đẹp thì đẹp thật nhưng tôi không biết là ám chỉ điều gì. Bởi vậy, tôi mới bảo là chỉ đùa gió tuyết, dỡn cỏ hoa mà thôi. Lục nghĩa do đó, đã tuyệt diệt.

Nhà Đường hưng thịnh đã 200 năm, trong thời gi­an ấy, có không biết bao nhiêu nhà thơ. Có thể kể ra đây : Trần Tử Ngang có 20 bài “Thơ cảm ngộ” (36), Bão Phòng có 15 bài “Thơ cảm hứng” (37), còn thi hào thì người đời vẫn nêu Lí, Đỗ. Sáng tác của Lí Bạch tài tình, kì lạ, quả là người không đuổi kịp, song tìm những bài đạt đến độ phong, nhã, tỉ, hứng thì mười phần không được một. Thơ của Đỗ Phủ nhiều nhất, có thể truyền được trên một nghìn bài. Còn xét về mặt quán xuyến cổ kim, cách luật khúc chiết chi li tận thiện tận mĩ thì vượt cả Lí Bạch. Thế nhưng, thâu góp lại những bài như Tân An lại, Thạch Hào lại, Đồng Quan lại, Tái Lô tử, Lưu Hoa môn (38) những câu như “Cửa son rượu thịt ôi, Ngoài đường xương chết rét” (Chu môn tửu nhục xú, Lộ hữu đống tử cốt), chẳng qua cũng chỉ được ba bốn chục bài mà thôi (39). Đỗ Phủ còn thế, huống hồ những người không bằng Đỗ ?

Tôi vẫn thường đau xót vì đạo lí thơ ca đã băng hoại mà sôi sục phẫn nộ, ngày bỏ ăn, đêm quên ngủ, không lượng tài hèn sức mọn, những mong xốc vác nó lên. Than ôi ! Sự thực quá trái ngược với ước mong, lại không thể nhất nhất nói hết ra được, song cũng không thể không trình bày một cách sơ lược cùng anh.

Lúc tôi mới sinh 6, 7 tháng, bà vú ẵm tôi đùa dỡn dưới giá sách, có người chỉ vào chữ “vô”, chữ “chi”, tuy tôi chưa nói được nhưng trong bụng đã thuộc làu ; về sau lại có người hỏi tôi hai chữ ấy, dù có thử chục lần, trăm lần, tôi vẫn chỉ đúng. Thề là tiền duyên (40) tôi nằm ở chốn văn chương rồi đó ! Lên 5, 6 tuổi, tôi đã học làm thơ, lên 9 tuổi đã am hiểu thanh vận. 15, 16 tuổi bắt đầu biết có bằng tiến sĩ nên chịu khổ công đọc sách. 20 tuổi về sau, ngày học viết phú, tối tập đọc sách, thỉnh thoảng lại làm thơ, không còn thơi gi­an để nghỉ ngơi. Đến nỗi lưỡi thành nhọt, khuỷu tay thành chai, đã lớn mà da dẻ dúm dó, chưa già mà tóc bạc răng long, mắt hoa lên như luôn thấy hàng vạn chấm đen di động tựa ruồi bay. Vì khổ học, cố sức làm văn mà nên nông nổi ấy, nói lên cũng tự thấy đáng thương ! Nhà nghèo, lắm biến cố nên 27 tuổi tôi mới dự kì thi hương. Sau khi thi đỗ, tuy chuyên tâm vào thi cử, tôi cũng không hề phế bỏ việc làm thơ. Khi nhận chức Hiệu thư lang (41), đã góp đủ được ba, bốn trăm bài, có khi đưa cho bạn bè cùng lứa như anh xem, xem xong ai cũng bảo là công phu, kì thực chưa có ai phát hiện được đường đi của tác giả.

Từ khi làm quan ở triều đình, tuổi ngày càng cao, xem xét công việc ngày càng nhiều, mỗi lần nói chuyện với ai tôi đều hỏi nhiều về tình hình thời sự, mỗi lần đọc sử sách tôi đều truy tìm cái lẽ trị đời, từ đó mới biết rằng, sáng tác văn chương cần phải vì thời thế, làm thơ cần phải vì sự việc (văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi tác). Bấy giờ nhà vua mới lên ngôi, tướng phủ còn có những con người chính trực (42), nhiều lần hạ chiếu thư thăm hỏi những nỗi cực khổ của dân chúng. Ngày ấy, tôi được đề bạt làm hàn lâm học sĩ nhưng thân phận vẫn là gián quan, hàng tháng lãnh nhận giấy để viết sớ tấu can gián (43). Ngoài khải tấu ra, còn những gì có thể chữa bệnh cứu người, bổ cứu những thiếu sót của nền chính trị đương thời mà khó nói rõ ra thì tôi liền đưa ra ngâm vịnh, mong dần dà được bề trên nghe thấy. Trước là để mở rộng tai mắt bề trên, giúp bề trên trị vì đất nước ; sau là để báo đền ơn vua, làm trọn chức trách gián quan ; cuối cùng là để thực hiện chí nguyện bình sinh. Nào ngờ, chí chưa toại nguyện thì phải hối hận, lời can ngăn chưa được bề trên nghe thấu thì lời gièm pha đã nổi lên. Xin được nói tường tận cùng anh. Đại phàm những kẻ nghe bài Hạ vũ thi (44) của tôi thì miệng chúng đã nhao lên, cho thế là không đúng. Nghe Thơ Khóc Khổng Kham (45) thì mặt chúng ngây ra, dáng vẻ không vui. Nghe Tần trung ngâm thì bọn cường hào quyền quý nhìn nhau mặt biến sắc. Nghe bài thơ Lạc du viên tôi gửi anh thì kẻ cầm quyền bính nắm tay giận dữ, nghe bài thơ Túc Tử Các thôn thì bọn nắm quân quyền nghiến răng tức tối. Đại để là thế, không thể kể hết. Người không quen biết thì gọi đó là mua danh, là công kích triều đình, là hủy bang bề trên ; nếu có quen, họ cũng cho cần lấy chuyện của Ngưu Tăng Nhụ làm răn (46). Cả đến thân thích cốt nhục và vợ con tôi cũng cho là sai. Người không cho tôi sai, nêu lên cũng chỉ được vài ba người. Có Đặng Phường xem thơ tôi thì vui mừng. Chẳng hiểu vì sao mà Phường chết. Có Đường Cù (47) xem thơ tôi thì khóc. Chẳng được bao lâu Cù cũng chết. Ngoài ra chỉ còn anh, mà anh cũng bị 10 năm khốn đốn đến đường ấy. Than ôi ! Phải chăng phong độ Lục nghĩa, Tứ thủy (48) đã bị ông trời phá hoại đến nỗi không thể chống chọi được nữa ? Hay tại mình không biết ý trời cũng không muốn bề trên nghe thấu nỗi khổ của dân tình ở dưới ? Nếu không, tại sao những người có chí về thơ lại gặp những điều quá bất lợi như vậy ?

Song tôi lại tự nghĩ mình cũng chỉ là một người đàn ông bình thường ở đất Quan Đông mà thôi. Ngoài việc đọc sách và chuyên chú vào thơ văn, tôi tuyệt nhiên không biết điều gì khác. Đến cả những thứ có thể cùng vui với công chúng như viết chữ, hội họa, chơi cờ, đánh bạc tôi cũng không hề biết, đủ thấy ngu vụng tới dường nào ! Lúc tôi mới dự thi tiến sĩ, trong triều không có lấy một người bà con, dù rất xa, không hề quen một vị quan, dù chỉ là sơ kiến, khập khễnh lê từng bước trên đường danh lợi, giơ hai bàn tay không mà bước vào chiến trường văn thơ. Trong vòng 10 năm, tôi đã đăng khoa 3 lần (49), danh tiếng lọt tai mọi người, giữ chức quan cao ra thì gi­ao tiếp với những người tài trí hiền đức, vào thì hầu hạ nhà vua. Bắt đầu có tiếng là nhờ văn chương, rốt cuộc cũng vì văn chương mà bị tội, thật đáng đời !

Trước đây ít lâu, tôi lại nghe bè bạn nói với nhau : bộ Lễ, bộ Lại khi tuyển người (50), thường lấy bài phú của tôi lúc dự thi trước đây để làm chuẩn đánh giá. Những câu thơ khác của tôi cũng thường được lưu truyền ở cửa miệng mọi người. Tôi không dám tin, tự lấy làm hổ thẹn. Khi trở lại Trường An, lại nghe chuyện tướng Cao Hạ Ngu định dùng sính lễ hỏi một kĩ nữ. Người kĩ nữ ấy khoe rằng : “Thiếp đọc thuộc long được bài Trường hận ca của Bạch học sĩ, đâu giống những kĩ nữ khác !”. Nhờ thế mà cô ta được tăng giá ! Thư của anh cũng nói : Hôm đến Thông Châu, thấy trên các cột quán ven sông có người để thơ tôi. Đó là ai thế nhỉ ? Lại trước đây, hôm qua vùng phía Nam sông Hán, gặp đúng lúc chủ công mua nhạc công mua vui cho khách, các kĩ nữ thấy tôi tới liền chỉ trỏ rồi nhìn nhau nói : “Tác giả Tần trung ngâm, Trường hận ca đấy !”. Từ Trường An đến Gi­ang Tây, suốt ba, bốn nghìn dặm, trong các trường làng, chùa chiền, quán trọ, đò gi­ang, thường có người bình phẩm thơ tôi. Kẻ sĩ, thứ dân, nhà sư, quả phụ, thiếu nữm ai cũng thường ngâm vịnh thơ tôi. Đó quả chỉ là trò bút cùn tài mọn chẳng có gì đáng khen nhưng chính lại là cái hợp thời thượng ! Dù là các bậc tiên hiền như Tử Uyên, Tử Vân (51), các bậc tiền bối như Lí Bạch, Đỗ Phủ cũng không thể bỏ qua được !

Người xưa bảo : “Danh là của chung của thiên hạ, không nên chiếm quá nhiều” (52). Tôi là hạng người nào đây ? Đánh cắp danh vọng của đời đã nhiều rồi, lại còn muốn đánh cắp giàu sang của đời nữa ! Cho dù mình là đấng tạo vật, liệu có chịu cho ai cả hai thứ đó không ? Nay tôi cùng khốn thế này là đương nhiên vậy. Huống hồ nhà thơ thường hay gặp cảnh khó khăn trắc trở. Như Trần Tử Ngang, Đỗ Phủ, cả hai đều làm Thập di (53) nhưng khốn đốn vì bị bức hại cho đến lúc chết. Những người như Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên, một chức quan nhỏ cũng chẳng được, khốn khổ tiều tụy suốt đời. Gần đây Mạnh Gi­ao 60 tuổi đầu mới được giữ thử chức Hiệp luật lang (54), Trương Tịch đến 50 tuổi vẫn chưa thoát khỏi được chức Thái chúc (55). Họ là những người như thế nào ? Họ là những người như thế nào nhỉ ? Huống hồ, tài của tôi lại không bằng họ. Nay, tuy bị biếm về làm quan phụ tá ở một vùng châu quận xa xôi song chức quan còn đến hàm ngũ phẩm, lương tháng bốn, năm vạn, lạnh có áo mặc, đói có cơm ăn, ngoài bản thân, còn cung cấp đươc cả cho người nhà, cũng có thể nói quả đã không phụ là một đứa con của dòng họ Bạch ! Anh Vi Chi ! Anh Vi Chi ! Đừng nhớ thương tôi nữa !

Mấy tháng gần đây, tôi đã kiểm lại những bài thơ cũ và mới trong túi sách, phân loại ra rồi chia thành từng quyển và hạng mục. Từ khi làm Tả thập di đến giờ, phàm những bài nhân lúc gặp gỡ, cảm xúc mà làm ra, trong đó có hàm ý tán dương phúng thích hay khởi hứng ví von, những bài đặt đề mục căn cứ vào những việc xẩy ra từ niên hiệu Vũ Đức đến Nguyên Hòa (56), đều đề là Tân nhạc phủ, tổng cộng có 150 bài, gọi là thơ phúng dụ. Có tri túc để giữ lấy trạng thái thái hài hòa, lấy việc ngâm vịnh để di dưỡng tính tình, thì gọi là thơ nhàn thích. Có 100 bài nhân sự vật có liên quan bên ngoài tác động đến tình lí bên trong rồi tùy theo cảm thụ và cảnh ngộ mà hóa thành những lời vịnh thán thì gọi là thơ cảm thương. Lại có hơn 400 bài cú, tuyệt cú ngũ ngôn, thất ngôn, từ 100 vần đến 2 vần, gọi là thơ tạp luật. Tất cả có 15 quyển, khoảng 800 bài, lúc gặp nhau sẽ chuyển hết cho anh.

Anh Vi Chi ! Người xưa nói : “Lúc cùng thì chỉ cầu cái tốt cái hay cho riêng mình, Khi đạt thì giúp đỡ cho cả thiên hạ” (Cùng tắc độc thiện kì thân, Đạt tắc kiêm tế thiên hạ). Tôi tuy không phải là người hiền, cũng thường noi theo câu ấy. Cái mà kẻ đại trượng phu phải giữ là đạo, phải chờ là thời. Thời cơ đến thì làm rồng cưỡi mây, làm đại bàng lướt gió, đột nhiên hăng hái xông ra dốc hết sức tài. Thời cơ không đến thì làm con báo giấu thân trong đám sương mù, làm con chim hồng bay trên bầu trời sâu thẳm, âm thầm lặng lẽ rút mình thoái ẩn. Tiến hay thoái, xuất hay xử, đi về đâu mà ta chẳng được đắc ý ? Cho nên, chí của tôi là ở chỗ kiêm tế, hành của tôi là ở nơi độc thiện. Giữ chí nguyện và hành động đó đến cùng là đạo, dùng lời để nói rõ ra là thơ. Gọi là thơ phúng dụ, vì thể hiện chí kiêm tế ; gọi là thơ nhàn thích, vì thể hiện nghĩa độc thiện : cho nên xem thơ tôi thì biết được đạo của tôi ở trong đó. Còn thơ tạp luật, hoặc là do sự lôi cuốn một lúc, của một việc nào đó mà phát ra một tiếng cười, một lời ngâm rồi qua quýt viết ra, đó không phải là thứ mà bình sinh tôi ưa chuộng. Song những lúc sum họp, chia tay với bà con bè bạn, cần phải lấy nó để giải hận mua vui. Nay lúc sắp xếp tôi chưa thể bỏ đi được. Sau này, có ai vì tôi biên tập những bài thơ này thì lược đi cũng được.

Anh Vi Chi ! Quý điều tai nghe, khinh điều mắt thấy, tôn vinh đời xưa, miệt thị đời nay, đó là lẽ thường tình của con người. Không cần dẫn chứng những điều xa xưa. Như những bài ca hành của Vi Tô Châu (57) mấy năm gần đây, ngoài cái đẹp đẽ tài hoa ra, còn rất gần với lối phóng dụ. Thơ ngũ ngôn của ông lại cao nhã, đạm bạc, đã tự trở thành thể thức của một “nhà”. Những người cầm bút ngày nay có ai theo kịp ông ta ? Thế nhưng, lúc Vi Tô Châu còn sống, người ta cũng chưa quý trọng ông ta lắm đầu, phải đợi đến khi ông mất rồi thì người ta mới quý ! Nay thơ tôi, loại người ta thích, chẳng qua toàn chỉ là thơ tạp luật và những bài thuộc hạng Trường hận ca trở xuống mà thôi ! Cái mà đời trọng lại là cái mà tôi xem khinh. Còn thơ phóng dụ, ý mạnh mẽ mà lời chất phác ; thơ nhàn thích, tứ thanh đạm mà từ xa xôi. Đem cái chất phác hợp với cái xa xôi nên đời chẳng thích.

Nay người yêu thích thơ tôi, sống cùng thời với tôi, chỉ còn một mình anh nữa thôi ! Thế nhưng trăm nghìn năm sau, biết đâu lại chẳng xuất hiện những người biết yêu thơ tôi như anh nhỉ ? Cho nên, từ tám, chín năm lại đây gi­ao du với anh, khi hanh thông đôi chút thì lấy thơ để khuyên răn nhau, khi hơi cùng khốn thì lấy thơ để động viên nhau, khi mỗi người đơn độc một phương thì lấy thơ để an ủi nhau, khi được ở một nơi thì lấy thơ để cùng chung vui. Anh hiểu được điều cốt yếu ở tôi đều là nhờ thơ đó (58). Như mùa xuân năm nay, lúc đi chơi ở phía nam thành cùng anh đùa vui trên lưng ngựa, nhân đó mỗi người ngâm một bài thơ tiểu luật (59) đẹp đẽ, mới mẻ, không xen lẫn bất cứ bài thơ nào khác ; từ dốc Hoàng Tử đến làng Chiêu Quốc (60), lần lượt thay nhau xướng họa, tiếng ngâm nga không dứt suốt 20 dặm đường, Phàn, Lí (61) ở cạnh cũng không tài nào nói chen vào được. Người hiểu ta thì cho ta là tiên thơ, không hiểu thì cho là ma thơ. Vì sao vậy ? Làm nhọc tâm linh, tiêu hao khí lực, liên tiếp sáng tối, chẳng tự biết là khổ, chả phải ma thì là gì ? Ngẫu nhiên cùng một người nào đó đứng trước cảnh đẹp, hoặc tiệc tàn bên hoa, hoặc rượu say dưới nguyệt, một vịnh một ngâm, chẳng biết tuổi già sắp đến, dù có cưỡi loan gióng hạc, ngao du thỏa thích ở chốn Bồng Lai cũng chẳng bằng, thế chả phải tiên thì là gì ? Anh Vi Chi ! Anh Vi Chi ! Cũng chính vì thế mà tôi cùng anh thường quên cả hình hài, thoát khỏi tông tích, khinh miệt phú quý, coi thường cả nhân thế đó !

Nhân lúc này, hứng thú của anh đang còn, hãy cùng tôi sưu tầm hết thơ ca của bạn bè quen biết, lấy những thể mà họ sở trường nhất, như Cổ nhạc phủ của Trương Tịch, Tân ca hành của Lí Thân, Luật thi của hai bí thư Lư Củng và Dương Cự Nguyên, tuyệt cú của Đậu Củng, Nguyên Tông Giản. Sưu tầm cho rộng, chọn lọc cho tinh rồi biên soạn thành một tập gọi là Nguyên Bạch vãng hoàn thi tập. Các bậc quân tử được so sánh, bình luận trong đó, không ai không nhảy cẫng lên vì vui sướng, cho đó là việc làm tốt đẹp. Than ôi ! Lời chưa hết thì anh đã bị giáng chức, mấy tháng sau tôi cũng ra đi luôn, lòng thật buồn chán. Biết đến bao giờ mới hoàn thành được việc ấy? Đó lại là chuyện đáng than phiền nữa !

Tôi thường vẫn nói với anh : Phàm người làm văn thơ, luôn tự nghĩ mình là đúng, không muốn bị cắt bỏ nên có lúc cũng rơi vào khuyết tật rườm rà ; song, chỗ hay dở ở khoảng giữa hai cực ấy, tự mình lại khó phân biệt. Ắt phải chờ đến lúc bạn bè cùng nhau đánh giá một cách công bình, không rộng lượng một cách vô nguyên tắc, bàn bạc xem nên cắt bỏ chỗ nào, sau đó mới định được mức độ đơn giản hoặc phồn tạp một cách thỏa đáng. Huống hồ tôi và anh, những người càng mắc bệnh rườm rà khi làm văn chương ? Mình còn chẳng bằng lòng thế, nữa là người khác ? Nay, mỗi chúng ta hãy soạn lại những bài văn xuôi và văn vần, tạm xếp thành từng quyển, đợi ngày gặp đưa cho nhau phần của mỗi người để hoàn thành chí nguyện của chúng mình trước đây. Song chẳng biết năm nào được gặp nhau, gặp nhau ở nơi nào, nếu chẳng may bỗng nhiên qua đời thì làm sao ? Anh Vi Chi ! Anh Vi Chi ! Hiểu cho lòng tôi chăng ?

Đất Tầm Dương tháng Chạp, gió trên sông lạnh buốt, năm tàn ít có niềm vui, đêm dài không sao ngủ được. Cầm bút trải giấy, lặng lẽ trước đèn, hễ nhớ là viết, lời không mạch lạc,  (hi vọng anh lúc đọc thư này) không vì bộn bề mà mệt mỏi, hãy tạm lấy đó thay thế cho buổi trò chuyện trong đêm trường. Anh Vi Chi ! Anh Vi Chi ! Hiểu cho lòng tôi chăng ?

Lạc Thiên kính bái

_______

CHÚ THÍCH
(1) Tần Trung ngâm : chùm thơ đầu tiên của Bạch Cư Dị vạch trần một cách có hệ thống nền chính trị hủ bại đương thời. Gồm 10 bài, mở đầu bằng lời Tựa như sau : “Khoảng giữa niên hiệu Trinh Nguyên – Nguyên Hòa, tôi ở Trường An. Trong những điều tai nghe mắt thấy, có những việc thật đáng thương, nhân đó viết thẳng ra thành thơ, gọi là Tần Trung ngâm”. Trường An thuộc tỉnh Thiểm Tây ; vì Thiểm Tây là đất cũ của Tân nên gọi là Tần Trung.

(2) Tân nhạc phủ : Năm đầu niên hiệu Nguyên Hòa (806), Lí Thân làm 20 bài Nhạc phủ tân đề (nay đã thất truyền) gửi Nguyên Chẩn. Nguyên Chẩn họa lại 12 bài. Nhân đó Bạch Cư Dị mở rộng phạm vi, viết liền 50 bài, gọi là Tân nhạc phủ. Tác giả đã kết thúc lời Tựa của tập thơ bằng một câu đặc biệt có ý nghĩa : “Vì vua, vì tôi, vì dân, vì sự việc, vì sự vật mà sáng tác chứ không phải vì văn chương mà sáng tác”.

(3) Nguyên Chẩn (779 -831), tự Vi Chi, người Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Đường tài tử truyện đã ca ngợi tình bạn giữa Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị như sau: “Quan hệ giữa Vi Chi và Bạch Lạc Thiên hết sức mật thiết, dù là thân thích cốt nhục cũng không bằng. Mối tình mến mộ giữa 2 người có thể khảm vào vàng đá”. Bởi vậy trong lịch sử văn học Trung Quốc, tên họ 2 người thường được ghép với nhau : Nguyên – Bạch.

(4) Nguyên văn : túc hạ, từ xưng hô để gọi người bạn mình viết thư một cách tôn kính. Trong bức thư, khi tự xưng thì Bạch Cư Dị lại gọi là bộc. “Bộc”, nghĩa đen là đầy tớ, cũng là một khiêm từ.

(5) Gi­ang Lăng : nay thuộc huyện Gi­ang Lăng tỉnh Hồ Bắc. Năm 810, vì xúc phạm đến bọn hoạn quan và bè lũ quyền thần, đang làm Giám sát ngự sử, Nguyên Chẩn bị giáng xuống làm Sĩ tào tham quân ở đây.

(6) Tầm Dương : nay thuộc thành phố Cửu Gi­ang, tỉnh Gi­ang Tây.

(7) Thông Châu : nay thuộc huyện Đạt, tỉnh Tứ Xuyên. Năm 815, Nguyên Chẩn được điều đi làm Tư mã ở Thông Châu.

(8) Tam tài : ba ngôi Thiên (Trời), Địa (Đất), Nhân (Người).

(9) Tam quang : ba cái được coi là sáng nhất : Nhật (Mặt trời), Nguyệt (Mặt trăng), Tinh (sao).

(10) Ngũ tài : năm chất liệu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

(11) Lục kinh : Sáu kinh : Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Tương truyền Lục kinh đã được Khổng Tử san định. Riêng Kinh Nhạc đã thất truyền từ lâu.

(12) Lục nghĩa : Phong, Nhã, Tụng, Phú, Tỉ, Hứng. Phong, Nhã, Tụng là sự phân loại về mặt âm nhạc của Kinh Thi ; Phú, Tỉ, Hứng là các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong Kinh thi.

(13) Ngũ âm : xét về mặt âm nhạc là 5 âm thanh chính : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ ; xét về mặt âm vận học là 5 loại âm thanh : Hầu (họng), Thiệt (lưỡi), Xỉ (răng), Thần (môi), Nha (răng hàm).

(14) Tức là sự phân chia thành 6 loại trong Lục nghĩa. Xem chú thích về Lục nghĩa.

(15) Ngũ đế : Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đường Nghêu, Ngu Thuấn. Tam hoàng : Toại Nhân, Phục Hi, Thần Nông.

(16) Tương truyền lúc Ngu Thuấn ở ngôi, thiên hạ thịnh trị. Ông ta với bề tôi là Cao Dao cùng xướng họa, làm nên bài ca trong đó có ba câu “Nguyên thủy minh tai ! Cổ quăng lương tai ! Thứ sự khang tai !” (Nhà vua… Mọi việc bình yên biết bao !).

(17) Còn gọi là Ngũ tử chi ca hay Ngũ tử Lạc, Nhuệ chi ca. Vua Thái Khang nhà Hạ vì hoang dâm nên mất ngôi. Năm anh em của ông ta đứng chờ bên sông Lạc, sông Nhuệ. Không thấy ông ta đến, họ bèn làm 5 bài ca để nói lên lòng oán hận của mình. Có tư liệu lại chỉ nói có một bài.

(18) Thái thi quan : tương truyền xưa đặt chức quan đó để đi thu nhập thơ ca trong dân gi­an. Phần Quốc phong trong Kinh thi chính là do họ sưu tập được.

(19) Tao từ : Khuất Nguyên có biết bài Li Tao theo thể Sở từ nên Sở từ còn gọi là Tao từ.

(20) Theo ý kiến chung hiện nay, thơ tặng đáp giữa Tô Vũ và Lí Lăng là ngụy tác. Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị giữ lại 19 năm. Lí Lăng đánh Hung Nô thất bại phải đầu hàng. “Câu thơ Hà lương” chỉ là bài số 3 trong chùm thơ tặng đáp nói trên vì bài này bắt đầu bằng hai câu : “Huề thủ thướng hà lương. Du tử mộ hà chi ?” (Nắm tay nhau bước lên cầu bắc qua sông. Kẻ du tử chiều tối đi về đâu ?).

(21) Trạch bạn chi ngâm là dựa vào ý “hành trâm trạch bạn” (đi lại ngâm nga bên bờ ao đầm) trong bài Ngư phủ, tương truyền là của Khuất Nguyên. Đây là chỉ tác phẩm Khuất Nguyên nói chung.

(22) Lấy ý từ hai câu trong bài thơ tương truyền là của Tô Vũ lúc về nước li biệt Lí Lăng : “Song phù câu bắc phi, Nhất nhạn độc nam tường” (Đôi vịt trời đều bay về bắc. Chỉ độc một con chim nhạn được bay về nam).

(23) Cỏ thơm chim ác : Li Tao thường dùng cỏ thơm ví với người quân tử, chim ác ví với bọn tiểu nhân.

(24) Tấn, Tống : tên hai triều đại từ giữa thế kỉ III đến cuối thế kỉ V.

(25) Khang Nhạc : tức Tạ Linh Vận (385 – 433), nhà thơ nổi tiếng thời Lưu Tống, xuất thân đại quý tộc, được lập tước Khang Nhạc Công, tác phẩm của ông thiên về miêu tả cảnh thiên nhiên, rất ít phản ánh những vấn đề xã hội.

(26) Uyên Minh: tức Đào Tiềm, nhà thơ lớn nhất ở thời Lục Triều, viết rất nhiều thơ tả cảnh điền viên song cũng có một bộ phận phản ánh hiện thực xã hội. Tuy nhiên, Bạch Cư Dị vẫn cho là chưa phản ánh hiện thực một cách đầy đủ.

(27) Gi­ang Yêm (444 – 505), Bão Chiếu (414 – 466, có người phiên là Bao Chiếu, Bào Chiếu) : hai nhà thơ lớn cuối thời Lục Triều.

(28) Ngũ y ca : Bài thơ phê phán sinh hoạt xa hoa của bọn thống trị do nhà thơ Lương Hồng thời Đông Hán làm lúc đi qua kinh đô Lạc Dương : Trắc bi Bắc Mang hề, y ! Cố chiêm đế kinh hề, y ! Cung khuyết thôi ngôi hề, y ! Dân chi cù lao hề, y ! Liêu liêu Vị Ương hề, y ! (Lên núi Bắc Mang chừ, than ôi ! Ngoái nhìn kinh đô chừ, than ôi ! Cung khuyết cao ngất chừ, than ôi ! Dân bao nhọc nhằn chừ, than ôi ! Cung Vị Ương xa xăm chừ, than ôi !). Núi Bắc Mang ở phía Đông Bắc thành phố Lạc Dương. Cung Vị Ương ở góc Tây Nam nội thành Trường An.

(29) Lương, Trần : tên hai triều đại, từ đầu đến cuối thế kỉ VI.

(30) Bắc phong kì lương : câu thứ nhất của chương thứ nhất trong bài Bắc phong, dân ca nước Bội trong Kinh Thi ; cả bài thơ tố cáo sự bạo ngược của bọn thống trị.

(31) Vũ tuyết phi phi : một câu trong chương cuối của bài Thái vi thuộc phần Tiểu nhã trong Kinh Thi ; cả bài miêu tả sinh hoạt khổ cực của người lính phòng thủ ở miền biên tái.

(32) Đường lệ chi hoa : một câu trong bài Đường lệ ở Tiểu nhã (có bản ghi là Thường lệ) ; cả bài nói lên tình tương thân tương ái của anh em một nhà.

(33) Thái thái phù dĩ : một câu được lặp nhiều lần trong bài Phù dĩ thuộc Chu nam trong Kinh Thi, một bài thơ nói lên niềm vui của người phụ nữ trong lao động. Luận điểm của Bạch Cư Dị là căn cứ vào cách đánh giá của các nhà nho đời Hán, theo ý kiến chung là không chính xác.

(34) Hai câu thơ này được xem là danh cú của Tạ Triệu (464 – 499, có người phiên là Diễu), nhà thơ nổi tiếng của Lục Triều.

(35) Hai câu thơ này được xem là danh cú của Bão Chiếu.

(36) Trần Tử Ngang (661 – 702) : người mở đầu cho truyền thống thơ hiện thực đời Đường, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa hình thức trong thơ ca Lục Triều. Trong Toàn Đường thi, ông có 38 bài Thơ cảm ngộ chứ không phải 20.

(37) Bão Phòng (723 – 790) : đậu tiến sĩ năm 753, viết nhiều bài thơ có tính hiện thực cao, trong Toàn Đường thi chỉ còn 8 bài, chùm thơ được Bạch Cư Dị nhắc tới nay đã thất truyền.

(38) Ba bài trước, qua hình ảnh những tên nha lại điển hình, tập trung phê phán sự tàn bạo của bọn thống trị. Hai bài sau nêu cao tinh thần yêu nước, chủ trương kháng chiến chống An Lộc Sơn.

(39) Dị bản ở Bạch thị Trường Khánh tập in ở đời Tống : “Diệc bất quá thập tam tứ” (Chẳng qua cũng chỉ được ba, bốn phần mười mà thôi). Có lẽ như vậy phù hợp hơn.

(40) Từ dùng mang màu sắc mê tín của Phật giáo.

(41) Hiệu thư lang : chức quan có nhiệm vụ hiệu đính, quản lí thư tịch. Bạch Cư Dị nhận chức này sau khi khảo hạch ở Bộ Lại năm 802.

(42) Chỉ các tể tướng Đỗ Hoàng Thường, Trịnh Nhân thời Đường Hiến Tông.

(43) Theo quy định ở đời Đường, hàng tháng các gián quan phải nhận một lượng giấy nhất định để viết tấu khuyên can nhà vua.

(44) Hạ Vũ thi : viết năm 809, nhằm khuyên nhà vua cải thiện đời sống cho dân chúng.

(45) Bài thơ ca ngợi Khổng Kham là một ông quan chính trực, không hề sợ hãi bọn quyền quý.

(46) Năm 808, Đường Hiến Tông mở kì thi khuyến khích người tài hiến dâng kế sách, nêu lên một cách thẳng thắn những điều không hay của triều chính. Ngưu Tăng Nhụ, Hoàng Phủ Thực, Lí Tông Mẫn vì phê phán quá mạnh mẽ, xúc phạm đến bọn hoạn quan và bè lũ quyền quý nên đều bị trị tội.

(47) Đường Cù : một trong những nhà thơ đầu tiên khẳng định giá trị hiện thực của thơ Bạch Cư D. Lúc ông mất, Bạch Cư Dị có viết hai bài nhan đề là Thương Đường Cù, trong đó trình bày một số quan điểm của tác giả về văn học.

(48) Tứ thủy : Bốn cái “bắt đầu”, chỉ 4 bài thơ mở đầu 4 phần trong Kinh Thi : Quan thư mở đầu Quốc phong, Lộc minh mở đầu Tiểu nhã, Văn vương mở đầu Đại nhã, Thanh miếu mở đầu Tụng. Ở đây dùng để chỉ Kinh Thi nói chung.

(49) Năm 800, Bạch Cư Dị đậu tiến sĩ ; năm 802 qua kì thi do bộ Lại mở. Năm 806, qua một kì thi đặc biệt do nhà vua mở để chọn nhân tài.

(50) Theo quy định ở đời Đường, bộ Lễ quản lí việc thi tiến sĩ, sau khi đậu tiến sĩ phải qua một kì thi do bộ Lại quản mới được bổ dụng.

(51) Tử Uyên, Tử Văn : tức Vương Bao, Dương Hùng (53 – 18 tr. CN), hai nhà văn nổi tiếng thời Hán.

(52) Câu trong thiên Thiên vận ở sách Trang Tử : Danh giả, công khí, bất khả dĩ đa thủ.

(53) Trần làm Hữu thập di, Đỗ làm tả thập di, được ở gần vua song tước hàm rất thấp (bát phẩm). Sở dĩ thế, theo Đường hội yếu, là để “dám nói thẳng”.

(54) Hiệp luật lang : chức quan nhỏ quản lí về âm nhạc.

(55) Thái chúc : chức quan nhỏ quản lí việc tế lễ.

(56) Vũ Đức : niên hiệu của Đường Cao Tổ, từ năm 618 đến 626.

Nguyên Hòa : niên hiệu của Đường Hiến Tông, từ năm 806 đến 820.

(57) Vi Tô Châu : tức nhà thơ Vi Ứng Vật (735 – ?), gọi như vậy vì ông ấy từng làm thứ sử ở Tô Châu.

(58) Câu này ở bản của Hoắc Tùng Lâm sử dụng là : “Tri ngô tội ngô, suất dĩ thi dã” (Hiểu tôi trách tôi, đều là do thơ đó.

(59) Tiểu luật : từ thời Đường dùng để chỉ loại tuyệt cú luật thi vì đó là dạng thơ luật nhỏ nhất.

(60) Dốc Hoàng Tử, làng Chiêu Quốc : 2 thắng cảnh ở Trường An, Bạch Cư Dị đã từng ở làng Chiêu Quốc một thời gi­an.

(61) Phàn, Lí : tức Phàn Tống Hiến, Lí Cảnh Tín, 2 người bạn của Bạch Cư Dị.

_______

(* nt: Bản Việt dịch nầy của Thầy NGUYỄN KHẮC PHI, đã được đăng trên tạp chí Văn học số 5 năm 1998 và trong quyển “Thơ văn cổ Trung Hoa – Mảnh đất quen mà lạ”, NXB Giáo dục, 1998).
nguon : e-thuvien.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s