MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT

truyện ngắn của Nguyễn Thanh Hiện 

                                        gửi Phạm Mạnh Hiên 
Núi
Câu chuyện kể.
Dấu tích
Và ta
Lũ chim núi đã bắt đầu đổi giọng, như không còn nghe thấy thứ âm vực trầm buồn trong  cách thúc bách những đám mây lẻ loi hãy mau quay về phương bắc nơi sản sinh những âm vang màu xám, thánh thót, là có phần cao trào, gấp rúc, nhưng vẫn lắng đọng những kết tập nghìn năm, hót là sự kết tập tinh hoa của một loài giống lấy chốn trời cao làm chỗ nương thân.

Phủ lên câu chuyện kể là những lời nguyền rủa đã tan ra thành những hạt bụi bám vào chỗ thâm cùng trí nhớ, nhưng ai nguyền rủa và nguyền rủa ai là chẳng thể diễn giải, thứ ký ức trắng ấy tựa một thứ thi ca vô thức luôn trổi dậy vào những lúc cảm nhận được  nỗi thống khổ đẹp nhất, mà cũng chẳng cần nói ra tên triều đại ấy, tên vì vua ấy, bỡi tất cả những triều đại  tội lỗi và  những ông vua tội lỗi là cùng chung một danh mục.
Cứ  phủi đi  rong rêu bám trên mặt đá là sẽ đọc được lời thơ kỳ dị.
Nói lên chùa Nước Nâu thực ra là ta lên núi có ngôi chùa đã đổ nát tự những thế kỷ trước để tìm lại những thứ chỉ có kẻ ngu ngốc như ta mới cất công đi tìm. Thứ ta tìm là một khái niệm mong manh thỉnh thoảng người ta lại lôi ra khỏi dòng chảy lịch sử rồi lại hô hóan rằng chẳng phải.
Núi Nung, tên ngọn núi có ngôi chùa đổ nát, là nằm trong danh mục những sông núi hạng bét của đất nước, có nghĩa  nếu không nói ra, như đang nói ra ở đây, thì chẳng ai biết ngoài những kẻ cày ruộng dưới chân  núi ấy.
Thì cứ xem như câu chuyện kể người làng ta ai cũng biết là gần với sự thật nhất. Mà nếu như mỗi thời người ta thay đổi mỗi chút thì cũng chỉ nhằm làm cho câu chuyện thực hơn. Vào một ngày nắng nóng, những người làng Cù làm  than củi vào núi Nung sớm nhất đã phát hiện thấy một  ngôi chùa mái tranh vách lá đã được dựng lên ở bên bờ con suối đá, vị trù trì là một chàng trai trẻ đẹp bảo người đệ tử duy nhất của mình, một ni cô xinh đẹp, đón những người làm rừng vào chùa để nghe giảng kinh. Chuyện kể bắt đầu như vậy. Và mấy trăm năm qua vẫn  bắt đầu như vậy.
Cứ phủi đi rong rêu trên mặt đá thì đọc được lời thơ kỳ dị. Dấu tích nó là thơ viết lên đá núi.
Ta ngồi nơi bờ suối Nước Nâu. Đang đầu mùa hạ. Suối đã cạn hết nước. Gọi là suối Nước Nâu, nhưng chưa ai nhìn thấy nước con suối là nước nâu. Tên chùa cũng là tên suối. Và tên suối hay tên chùa cũng chỉ là khái niệm mơ hồ về một khối u uẩn nào đó. Nếu chẳng phải thế thì tại sao chẳng phải nước xanh, hay nước trong, mà là nước nâu?
Hay là núi cũng thuộc về cái khối u uẩn to lớn nào đó? Cái gì nung cái gì, cái khác nung núi, hay là núi  tự nung nấu mình? Là núi sông hạng bét, nên chẳng có  lời chú hay lời bình trong tư liệu sách vở nào.
Chuyện kể không gọi ni cô xinh đẹp là ni cô, mà gọi là nàng. Đêm đông giá lạnh, nàng trải tóc ủ cho Từ bớt lạnh., trưa hè nắng nung, nàng với Từ cùng xuống nằm nơi lòng suối đá để truyền cho nhau sức vĩnh hằng. Từ trong chuyện kể là tên vị sư trụ trì chùa Nước Nâu. Đến Phật cũng động lòng, huống hồ người làng Cù. Kể từ những ngày đầu có chùa có sư  ở trên núi, người làng Cù thay nhau mang gạo, sắn, hoa quả lên tặng cho những người nhà chùa, mà theo bọn họ thì đấy là những vị bồ tát đang thực thi lòng yêu thương cho chúng sinh noi theo. 
Cứ phủi hết lớp rong rêu trên mặt đá là thấy những lời ấy. Dấu tích cũng chỉ là một cách thể hiện khác của những khái niệm duy lý.
Nhà viết sử khi viết lịch sử của loài người thường có những mô tả rộng ra về những loài khác, trong đó có loài chim. Cho nên khi ngồi ở bờ suối Nước Nâu ta cũng cố nghe thử lúc lũ chim núi Nung nói về loài giống  (hót là một cách chép sử bằng miệng của loài chim) chúng có nói gì về loài người hay không. Dường chỉ rặt ca tụng nhau, hay ca tụng trời cao. Ở bên dưới những đôi cánh của loài giống chúng ta là những thèm muốn của lũ  ích kỷ xấu xa. Ta chợt thấy trong sự thông thái bật chợt của mình lời dịch bất chợt tiếng chim ra tiếng người.
Núi ở đây ngoài nghĩa tập họp những yếu tố tự nhiên : đất đá, rừng cây, hùm beo, chim chóc…, còn có một nghĩa khác, như một thứ khái niệm mang tính lịch sử, nơi thể nghiệm cho một cách hiểu khác về sự đối nghịch của văn minh : dã man.
Cũng có lúc  có người nghĩ đến một lúc nào đó vị sư trụ trì  chùa Nước Nâu sẽ cho ra đời một anh sư con. Nhưng không. Thời gian đã trả lời với người làng Cù về chuyện đó. Vào một sáng, khi mặt trời soi rõ núi rừng, những người làm rừng vào núi Nung đã nhìn thấy cảnh hành hình  diễn ra ở chùa Nước Nâu. Vị sư trụ trì và ni cô của chùa đều bị trói chặt, đặt nằm sát bên nhau ở  sân chùa, lúc người cầm đầu đám binh lính bảo chém, thì đầu của  hai người cùng văng ra một lúc.
Dấu tích là thơ viết trên đá : Núi lở mây nghiêng nửa sắc không.
Ta đưa mắt nhìn mãi những gọp đá nơi bờ suối nhưng chẳng tìm thấy chút manh mối nào của dấu tích. Thì ra dấu tích cũng chỉ là một cách nói khác của niềm khao khát. Chuyện kể nói khi vua biết ni cô chùa Nước Nâu là  con gái yêu duy nhất của vua, và vị sư trụ trì chùa Nước Nâu là kẻ có âm mưu chống lại vua đã từng bị vua truy đuổi,  thì ngài đã lập tức đưa quân sĩ đến núi Nung, vây chùa Nước Nâu, và chặt đầu cả con gái mình lẫn kẻ thù của mình. Ta chẳng cần biết âm mưu chống lại vua là âm mưu gì, cũng chẳng cần biết vua ấy là của triều đại nào, điều ta  muốn biết có phải đấy là niềm khao khát của con người  về cách thề tồn tại của mình khi chuyện kể nói máu của Từ và máu của người yêu của Từ đã hóa thành thơ trên vách đá?
Tiết cốc vũ, 2011

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s