LỜI THIÊNG ( tiếp theo )

thơ của Kahlil Gibran
chuyển ngữ : Trần Văn Điền

Có những kẻ băn khoăn không dám đụng tới sản vật bạn, nhưng ngang nhiên xen vào tư tưởng bạn.

Nỗi buồn tiếc của chúng ta đối với người quá cố có thể là một thứ đố kỵ.


Khi phát minh ra máy móc, con người điều khiển máy móc; sau đó máy móc khởi sự chi phối con người, rồi con người trở thành nô lệ cho chính nô lệ của mình.

Ước vọng và thèm khát là hai mối bận tâm của cuộc sống. Dù muốn dù không, chúng ta cũng phải thực hiện cho kỳ được hai mối bận tâm đó.

Ai có thể sống biệt lập với nỗi ưu tư và cô đơn của mình mà không đau khổ trong tâm hồn?

Văn minh khởi sự lúc con người mới biết đào xới và gieo hạt.

Tôn giáo khởi sự lúc con người nhìn thấy mặt trời chiếu xuống hạt giống họ vừa gieo.

Nghệ thuật khởi sự lúc con người hát bài tạ ơn tôn vinh mặt trời.

Triết lý khởi sự lúc con người ăn thổ sản và mắc ách.

Giá trị con người căn cứ vào ít điều họ sáng tạo, không căn cứ vào nhiều sản vật họ tích luỹ.

Không có sự trù phú chân thực ngoài nhu cầu của con người.

Người lạc quan ngắm bông hồng mà quên mất gai nhọn, kẻ bi quan chỉ thấy gai nhọn mà quên mất bông hồng.

CHÍN ĐIỂU KHỔ

Khổ cho dân tộc xa lìa tôn giáo củng cố niềm tin, bỏ con đường làng, đại lộ phố xá nghênh ngang, bỏ nguồn khôn sáng học khoa tranh luận.

Khổ cho dân tộc không dệt áo may quần , không cấy cày gặt hái, không trồng nho ép rượu.

Khổ cho dân tộc coi dáng hào nhoáng của kẻ chiến thắng là tuyệt đích, thấy vẻ xấu xa của người chinh phục là đẹp sang.

Khổ cho dân tộc coi bài trừ bất công khi mơ ngủ, nhưng chịu thua điều ác lúc thức tỉnh.

Khổ cho dân tộc đợi ngày tang lễ mới than van, đứng trước nấm mồ mới thương tiếc và lúc lưỡi gươm kề cổ mới nổi loạn.

Khổ cho dân tộc lấy chính trị làm xảo kế , lấy triết học làm khoa lừa bịp, lấy kỹ nghệ làm giai đoạn vá víu.

Khổ cho dân tộc nay hoan hô mai đả đảo, hết kẻ chiến thắng này đến người chinh phục khác.

Khổ cho dân tộc mỗi bộ lạc là một sứ quân.

Dân tộc nào cũng chịu trách nhiệm về mỗi hành vi cá nhân mình.

Giờ biệt ly là lúc tình yêu dò tới đáy sâu.

Tiếng nói không phải tải môi lưỡi trên đôi cánh nên mới nhẹ nhàng vươn toả tận trời cao. Giống như chim phượng hoàng không cần chở theo tổ ấm nên mới một mình thanh thản lướt cánh giữa mênh mông.

Đức tin nhận ra chân lý sớm hơn kinh nghiệm.

Lời hoa mỹ là lưỡi uốn rót nhạc vào tai. Thuật hùng biện là nhịp cầu nối con tim với linh hốn.

Đức hạnh của một số người giầu là một thứ luân lý dạy ta khinh chê của cải.

Họ nói:”Ai hiểu mình là hiểu được mọi người”. Nhưng tôi nói:”Ai yêu mọi người thì hiểu được đôi chút về mình”.

Tâm hồn khí khái vươn toả trong chốn hiu quạnh, nơi tâm hồn bạc nhược bị héo úa.

Ai không biết tính tình Socrates, thường bị Alexander lôi cuốn. Ai không hiểu Virgil, thường ca ngợi Coesar. Ai không thấy đạt tư tưởng Laplace, thường xưng tụng Napoleon. Riêng tôi lúc nào cũng nhận thấy một thoáng nô lệ trong tâm hồn những người tán tụng Alexander, Coesar, hoặc Napoleon.

Kẻ cần thúc đẩy mới bắt tay vào một hành vi cao cả, sẽ không bao giờ hoàn thành đuợc hành vi cao cả đó.

Đức trinh khiết của thân xác có thể là sự biển lận của tinh thần.

Tôi chưa gặp được một người kênh kiệu nào thâm tâm không xao xuyến.

Chúng ta sợ chết; tuy nhiên chúng ta ao ước tìm về giấc ngủ và mộng mơ.

Can đảm là giác quan thứ sáu tìm ra con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.

Những điều kềm toả và cấm đoán của tôn giáo còn nguy hại hơn tình trạng náo loạn vô trật tự.

Màng lưới pháp luật chỉ bủa vây được những con tép nhỏ.

TRIẾT LÝ “TRI KỶ”

Một buổi chiều mưa tại thành phố Beirut, Salem E.Daybis ngồi trước kệ sách trong phòng học, lần dở từng trang sách cũ, miệng phì phèo điếu thuốc lá nhãn hiệu Thổ Nhĩ Kỳ. Hắn đang đọc bài đối thoại về thuyết “tri kỷ” của triết gia Socrates, do đồ đệ của ông là Plato ghi chép.

Salem suy niệm về những điều đã đọc và cảm hấy thán phục các nhà hiền triết Đông Tây.

Hắn lặp lại câu nói của Socrates: “Hãy biết mình”, đứng bật dậy và lớn tiếng: “Đúng vậy! Ta phải biết mình, phải đi sâu vào tận đáy lòng mình. Có thế ta mới gạt bỏ được những ngờ vực và ưu tư. Điều tối cần ta phải làm bây giờ là phơi bầy con người lý tưởng của ta cho con người vật chất của ta biết, sau đó sẽ tiết lộ những bí mật của sự hiện hữu bằng xương bằng thịt này cho cái bản chất trừu tượng của ta hay”.

Lòng hắn đầy hăng say. Đôi mắt rực sáng niềm khao khát hiểu biết-hiểu biết chính mình.

Hắn sang phòng bên cạnh, đứng ngây người như một pho tượng trước tấm gương, nhìn trừng trừng vào con người xấu xí của hắn, suy nghĩ về hình thù cái đầu, khuôn mặt và tứ chi của thân thể hắn.

Hắn đứng trong tư thế đó nửa tiếng đồng hồ, đắm chìm trong suy tư, dường như thấy những bí ẩn của tâm hồn mình đang hiện rõ dần dưới làn hào quang từ cõi thinh không toả xuống. Sau đó, hắn bình tĩnh lên tiếng nói với mình:
“Người ta lùn, Nã phá Luân và Victor Hugo cũng lùn vậy. Trán ta thấp, Socrates và Spinoza cũng thấp vậy. Mũi ta dài và gãy, mũi Voltaire, mũi George Washington cũng dài và gãy như vậy. Mắt ta sâu, mắt thánh Phao-Lồ Tông Đồ, mắt Neitzche cũng sâu vậy. Môi ta dầy có khác chi vua Louis XIV. Cổ ta thô đúng cổ Hannibal và Mark Anthony”
Ngừng một lúc, hắn lại nói:

“Tai ta dài có thể hợp với đầu một con thú, nhưng Cervantes đã chẳng có đôi tai như thế là gì? Má ta hõm, nhưng Lafayette và Lincoln đã chẳng có đôi mà hõm như thế là gì? Cằm ta lẹm có khác chi cằm William Pitt và cằm Goldsmith đâu? Vai ta bên cao bên thấp, thì Gambetta cũng có đôi vai lệch giống thế. Bàn tay ta dầy, những ngón cụt và thô, như vậy là giống Eddington rồi còn gì?

“Mình ta có vẻ gầy. Đây là một đặc điểm chung cho các đại tư tưởng gia. Lạ thật, mỗi lần ngồi đọc sách hoặc viết lách là ta phải có bình cà phê bên cạnh, giống như Balzac. Ta có khuynh hướng thích giao tiếp với đám bình dân. Về phương diện này, ta giống Tolstoy. Đôi khi ta để bốn năm ngày không rửa chân tay mặt mày. Beethoven và Walt Whitman cũng như vậy. Ta thường thích nghe lỏm những người đàn bà đàm tiếu về chồng con họ. Thế mà lạ thay Boccaccio cũng có tật đó giống hệt như ta vậy. Tửu lượng của ta còn hơn cả Marlowe, Abi Nowas và No-e. Tính tham ăn của ta còn vượt cả Emir Basheer và A lịch sơn đại đế.”

Nghỉ một lúc, Salem đưa những đầu ngón tay nhơ bẩn sờ lên trán rồi tiếp tục: “ Đây chính là ta, Đây là con người thật của ta! Ta có tất cả những đức tính của các bậc vĩ nhân từ đầu lịch sử tới bây giờ. Một thanh niên như ta có những đức tính ấy, cốt để hoàn thành những công việc lớn.

“Bản chất của sự khôn ngoan là biết mình như thế. Vậy từ nay ta sẽ bắt tay vào đại sự, việc mà Đấng Đại Tư Duy của vũ trụ này đã uỷ thác cho ta. Đấng đã gieo vào chốn sâu thẳm của lòng ta một số yếu tố hữu hình.Ta đã tháp tùng các bậc vĩ nhân từ thời No-e đến Socrates, qua Boccaccio tới Ahad Farris Shidyak. Ta không biết phải bắt đầu từ công việc nào, nhưng một kẻ đã liên kết được trong cái bản ngã thần bí và con người thật của mình, tất cả những đức tính diệu huyền hình thành do sự vận chuyển của ngày đêm, thì chắc chắn có đủ khả năng hoàn thành đại sự…..Ta đã biết mình. Phải, thần tính đã biết ta. Linh hồn ta vạn tuế! Bản ngã ta muôn năm!Vũ trụ này bất diệt để ta có thể đạt được cứu cánh”
nguon : e-thuvien.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s