TẠI SAO VĂN CHƯƠNG ( tiếp theo )

Vargas Llosa
chuyển ngữ : Phan Quỳnh Trâm
Vẫn còn một lý do khác để ban cho văn học một vị thế quan trọng trong sinh mệnh của các quốc gia. Không có nó, óc phê phán, vốn là động cơ đích thực của sự chuyển hoá lịch sử và là thành trì tốt nhất cho sự tự do, sẽ phải chịu một tổn thất không thể bù đắp được.

Bởi vì tất cả những áng văn chương hay đều mang tính triệt để, và đặt ra những câu hỏi triệt để về cái thế giới chúng ta đang sống. Trong tất cả những văn bản văn chương vĩ đại, thường không do chủ ý của tác giả, đều có mầm mống của khuynh hướng nổi loạn.

Văn chương không có nghĩa gì cả đối với những con người tự thoả mãn với vốn liếng của họ, những người bằng lòng với cuộc sống họ đang sống. Văn chương là thực phẩm của tinh thần nổi loạn, là nơi truyền bá những tư tưởng bất thoả hiệp, là chốn ẩn náu cho những người có quá nhiều hay quá ít trong đời. Người ta tìm kiếm thánh địa trong văn chương để không cảm thấy bất hạnh hay để không cảm thấy bất toàn. Cưỡi ngựa song song với con Rocinante khẳng khiu và chàng Hiệp sĩ ngơ ngác trên những cánh đồng ở La Mancha,[1] vượt đại dương trên lưng của một con cá voi cùng với thuyền trưởng Ahab,[2] uống thuốc độc cùng với Emma Bovary,[3] trở thành một con bọ với Gregor Samsa:[4] đó là tất cả những cách thế mà chúng ta đã phát minh ra để thoát khỏi những sự sai lầm và những gánh nặng của cuộc sống bất công này, một cuộc sống buộc chúng ta luôn luôn chỉ là một con người không thay đổi trong khi chúng ta muốn được sống như nhiều con người khác nhau, để có thể thoả mãn những khát vọng từng ám ảnh chúng ta.
Văn chương làm nguôi đi sự bất mãn nhức nhối này chỉ trong giây lát — nhưng trong cái khoảnh khắc huyền diệu ấy, trong sự đình chỉ tạm thời ấy của cuộc sống, ảo ảnh văn chương nâng chúng ta lên và đưa chúng ta ra ngoài lịch sử, và chúng ta trở thành những công dân của một vùng đất phi thời, và bằng cách đó, chúng ta trở thành những kẻ bất tử. Chúng ta trở nên nồng nhiệt hơn, phong phú hơn, phức tạp hơn, hạnh phúc hơn và sáng suốt hơn lúc chúng ta đang sống với những lề thói ràng buộc của cuộc sống bình thường. Khi gấp sách lại và rời bỏ cõi hư cấu của văn chương, chúng ta trở về với cuộc sinh tồn thực tế và so sánh nó với miền đất lộng lẫy mà chúng ta vừa mới rời khỏi. Một nỗi thất vọng to tát đang chờ đón chúng ta! Tuy nhiên một sự nhận thức lớn lao cũng chờ đón chúng ta, nói một cách cụ thể, cuộc sống huyễn tưởng trong tiểu thuyết thì tốt hơn — đẹp hơn và đa dạng hơn, dễ lĩnh hội hơn và hoàn hảo hơn — cuộc sống mà chúng ta sống khi tỉnh thức, cuộc sống bị câu thúc bởi những giới hạn và sự tẻ nhạt của thân phận chúng ta. Như thế, những áng văn chương hay, những áng văn chương đích thực, luôn mang tính chất đập phá, bất phục tùng và nổi loạn: một sự thách đố đối với những gì sẵn có.
Làm sao chúng ta không khỏi cảm thấy bị dối lừa sau khi đọc Chiến Tranh và Hoà Bình hay Đi Tìm Thời Gian Đã Mất rồi trở về thế giới của chúng ta — cái thế giới của những chi tiết vụn vặt, những giới hạn và cấm đoán nằm chờ chúng ta ở mọi nơi và, từng bước, làm hỏng những ảo ảnh của chúng ta? Thậm chí còn hơn cả nhu cầu duy trì sự trường tồn văn hoá và nhu cầu làm phong phú ngôn ngữ, sự đóng góp lớn lao nhất của văn chương vào sự tiến bộ của con người có lẽ là để nhắc nhở chúng ta (một cách vô tình, trong đa số trường hợp) rằng thế giới này được tạo dựng một cách tệ hại; và rằng những kẻ giả vờ hiểu ngược lại, những kẻ có quyền lực và may mắn, thì đang nói dối; và rằng thế giới có thể được cải thiện, và được tạo dựng tương tự như những thế giới mà trí tưởng tượng và ngôn ngữ của chúng ta có thể sáng tạo ra. Một xã hội tự do và dân chủ phải có những công dân có trách nhiệm và có tinh thần phê phán, ý thức được sự cần thiết phải liên tục khảo sát cái thế giới mà chúng ta đang cư ngụ, và cố gắng làm nó gần giống với cái thế giới mà chúng ta muốn sống, mặc dù việc đó càng ngày càng là một điều bất khả. Và không có phương tiện nào tốt hơn để kích động sự bất mãn đối với cuộc sinh tồn cho bằng việc đọc những áng văn chương hay; không có phương tiện nào tốt hơn để hình thành những công dân độc lập và có óc phê phán, những con người không bị thao túng bởi những kẻ cai trị họ, và những con người được phú cho một sự vận động tinh thần thường trực và một trí tưởng tượng mạnh mẽ.
Tuy vậy, cho rằng văn chương mang tính nổi loạn bởi nó kích cảm ý thức của độc giả về sự bất toàn của thế giới thì không có nghĩa là những văn bản văn chương sẽ gây ra những biến động xã hội tức thời hoặc sẽ thúc đẩy những cuộc cách mạng nhanh chóng xảy ra hơn — theo cái cách mà các giáo hội và các nhà cầm quyền có vẻ nghĩ như thế khi họ thiết lập sự kiểm duyệt. Những hiệu ứng xã hội và chính trị của một bài thơ, một vở kịch hay một cuốn tiểu thuyết thì không thể lường trước được, bởi vì chúng không được tạo ra một cách tập thể và cũng không được trải nghiệm một cách tập thể. Chúng được sáng tạo bởi những cá nhân và được đọc bởi những cá nhân, vốn rất khác nhau ở những kết luận mà họ rút ra từ những điều họ viết hay đọc. Vì lý do đó, rất khó, hay thậm chí bất khả, để thiết lập những mẫu thức chính xác. Hơn nữa, những hệ quả xã hội của một tác phẩm văn chương có thể không mấy liên quan đến phẩm chất mỹ học của nó. Một cuốn tiểu thuyết tầm thường của Harriet Beecher Stowe[5] có vẻ như đã đóng một vai trò quyết định trong việc nâng cao nhận thức xã hội và chính trị về những sự kinh tởm của chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ. Nói rằng khó mà xác định những tác động ấy của văn chương thì không có nghĩa là những tác động ấy không tồn tại. Điều quan trọng là những tác động ấy được tạo nên bằng hành động của những công dân mà tính cách của họ đã được hình thành một phần từ những cuốn sách.
Những áng văn chương hay, trong lúc tạm thời xoa dịu sự bất mãn của con người, thực ra lại khiến sự bất mãn ấy tăng thêm, bởi nó giúp cho phát triển một thái độ phê phán và bất thoả hiệp với cuộc sống. Thậm chí có thể nói rằng những áng văn chương hay thường khiến con người cảm thấy bất hạnh hơn. Sống bất mãn, và gây chiến với cuộc sinh tồn, nghĩa là tìm kiếm những điều có thể không có ở đó, nghĩa là tự dấn thân vào những cuộc chiến vô ích, như những cuộc chiến mà Đại tá Aureliano Buendia đã chiến đấu trong Trăm Năm Cô Đơn, biết rõ là ông sẽ thua hoàn toàn. Tất cả những điều này có thể đúng. Nhưng cũng đúng nữa là nếu không có sự nổi loạn chống lại cái tầm thường và nhếnh nhác của cuộc sống, thì chúng ta chắc hẳn vẫn sống trong tình trạng sơ khai, và lịch sử chắc hẳn đã dừng lại. Ý thức cá nhân độc lập chắc hẳn đã không được hình thành, khoa học và kỹ thuật chắc hẳn đã không tiến bộ, nhân quyền chắc hẳn đã không được công nhận, và tự do chắc hẳn đã không tồn tại. Tất cả những điều này đều sinh ra từ sự ưu phiền, từ những hành động phản kháng đối với một cuộc sống được cảm nhận là bất túc hoặc không thể chịu đựng được. Đối với cái tinh thần khinh miệt cuộc sống vốn như nó hiện bày — và loay hoay truy vấn với sự điên khùng của Don Quixote, mà cơn điên khùng ấy lại xuất phát việc từ việc đọc những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ — thì văn chương đã đóng một vai trò thúc đẩy tuyệt vời.
Hãy thử làm một cuộc tái hiện lịch sử huyễn tưởng. Hãy hình dung một thế giới không có văn chương, một nhân loại chưa từng được đọc thơ hay tiểu thuyết. Trong thứ văn minh còi cọc ấy, với vốn từ vựng sơ giản trong đó những tiếng rên rỉ và những động tác quơ tay múa chân như khỉ giữ vai trò quan trọng hơn ngôn từ, thì những tính từ nào đó chắc hẳn đã không tồn tại. Những tính từ đó là: “quixotic”,[6] “Kafkaesque”,[7] “Rabelaisian”,[8] “Orwellian”,[9] “sadistic”,[10] và “masochistic”,[11] toàn là những chữ có gốc rễ từ văn chương. Hiển nhiên, trong chúng ta chắc hẳn vẫn còn có những người điên, và những nạn nhân của chứng hoang tưởng và những phức cảm bách hại cuồng, và những người bị bệnh thèm ăn lạ lùng và hoang dâm vô độ và những con vật hai chân thích gây đau đớn cho kẻ khác hoặc thích chịu đựng sự đau đớn. Nhưng chúng ta chắc hẳn đã không biết nhận thấy, đằng sau những hành vi cực đoan ấy — những hành vi vốn bị cấm đoán bởi các quy phạm văn hoá của chúng ta —, là những đặc tính cơ bản của điều kiện nhân sinh. Chúng ta chắc hẳn đã không khám phá ra những đặc điểm riêng của chúng ta, như những tài năng hiếm hoi cỡ Cervantes, Kafka, Rabelais, Orwell, de Sade và Sacher-Masoch đã khai mở cho chúng ta thấy.
[còn tiếp]
—————-
Nguồn: Mario Vargas Llosa, “Why Literature?” New Republic, 05/14/2001, Vol. 224, Issue 20.
_________________________
Chú thích của người dịch:
[1]Vargas Llosa nhắc đến các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết El ingenioso hidalgo don Quijote de la Mancha (Hiệp khách tài hoa Don Quixote xứ La Mancha, 1605) của Miguel de Cervantes (1547-1616). Rocinante là con ngựa của Don Quijote.
[2]Nhân vật chính của cuốn Moby-Dick [còn gọi là The Whale] (Cá voi, 1851) của Herman Melville (1819-1891).
[3]Trong cuốn Madame Bovary (Bà Bovary, 1857) của Gustave Flaubert (1821-1880).
[4]Nhân vật chính của cuốn Die Verwandlung (Hóa thân, 1915) của Franz Kafka (1883-1924).
[5]Vargas Llosa nói đến cuốn Uncle Tom’s Cabin (Túp lều của chú Tom, 1852) của Harriet Beecher Stowe (1811-1896).
[6]Chữ “quixotic” chỉ tính cách của nhân vật Don Quijote (điên rồ, hào phóng, nghĩa hiệp, lãng mạn, ngây thơ…)
[7]Chữ “Kafkaesque”, xuất phát từ tên của nhà văn Franz Kafka, được dùng để chỉ những quan niệm và những trạng thái vô cảm, dị dạng, mất phương hướng vốn là những chủ đề nổi bật trong các cuốn tiểu thuyết Die Verwandlung (Hóa thân, 1915), Der Prozeß (Vụ án, 1925) và Das Schloß (Lâu đài, 1926). Vargas Llosa sẽ giải thích thêm ý nghĩa của từ này ở đoạn sau của bài viết.
[8]Chữ “Rabelaisian”, gắn liền với tên nhà văn Francois Rabelais (1494-1553), tác giả của cuốn La vie de Gargantua et de Pantagruel (Cuộc sống của Gargantua và của Pantagruel, 1532-1552?)), được dùng để chỉ những sự hài hước và châm biếm sắc bén với một ngôn ngữ thô tục và những thủ pháp cường điệu, khoa trương và lố bịch hóa.
[9]Chữ “Orwellian”, xuất phát từ tên của nhà văn George Orwell (tên thật là Eric Arthur Blair, 1903-1950), tác giả của cuốn Animal Farm (Nông trại súc vật, 1945), được dùng để chỉ thái độ và chính sách kiểm soát và giám sát toàn diện đời sống xã hội bằng các biện pháp tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật và theo dõi của các chính quyền độc tài hiện đại. Vargas Llosa sẽ giải thích thêm ý nghĩa của từ này ở đoạn sau của bài viết.
[10]Chữ “sadistic” xuất phát từ tên của Donatien Alphonse François (Marquis de Sade) (1740-1814), chỉ tính cách bạo dâm trong những tiểu thuyết của ông.
[11]Chữ “masochistic” xuất phát từ tên của Leopold von Sacher-Masoch (1836-1895), chỉ tính cách khổ dục trong những tiểu thuyết của ông.
 nguon :tienve.org

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s