"MỞ NHỮNG CON MẮT, ĐÓ LÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ VĂN "

Don Delillo
chuyển ngữ: Nhị Linh


thực hiện phỏng vấn: Augustin Trapenard

Từ bốn thập kỷ nay, nhà văn Mỹ chiếu tia X vào những mảng tối tăm của đất nước ông. Một nghệ thuật thấu thị? Dẫu không phải thế thì cũng là mang tính chất thị giác một cách sâu sắc, điều càng được chứng tỏ rõ hơn với cuốn sách mới nhất của ông, Point Omega.

Ở tuổi 73, Don DeLillo vừa nhận giải Pen/Saul Bellow cho toàn bộ tác phẩm của ông: mười sáu tiểu thuyết, một kịch bản phim cùng một ít truyện ngắn, tiểu luận và kịch. Tác giả của Libra và Falling Man có được một vị thế rất khác biệt trong bức tranh chung của văn chương Mỹ vì lý do số lượng tác phẩm dồi dào ít hơn vì lý do từ gần bốn mươi năm nay ông khám phá cùng những vùng tối, những cơn loạn tâm và những nỗi sợ có tính chất cổ mẫu của người sống cùng thời, vừa làm như vậy vừa xây đắp cho sự im lặng và bí mật. Với rất nhiều cuộc mưu phản chống lại những khốn cùng của sự tiêu dùng đồng thời với các hành động tàn phá hình ảnh, dần dần ông tự ấn định mình thành một chứng nhân và lý thuyết gia của những “hình thức hiện đại của hãi hùng”. Nhưng những lần trả lời phỏng vấn và xuất hiện trước công chúng của ông chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Và các tiểu thuyết mênh mông của giai đoạn đầu đã dần dần nhường chỗ, từ khoảng chục năm nay, cho những văn bản ngắn hơn và kiệm lời (ê-líp-tích) hơn. Cũng như vậy ở cuốn sách gần đây nhất, Point Omega, cái nhan đề hơi có chút huyền bí, có hình thức gây rối trí và những mạng lưới hình ảnh không hề bị che giấu. Cuộc gặp gỡ, trong sa mạc Arizona, giữa một đạo diễn trẻ và một tay tân bảo thủ, nhân viên Lầu Năm Góc về hưu và bộ não của cuộc chiến tranh Irak. Một cuộc gặp biến thành tiểu thuyết noir khi con gái ông già mất tích, cũng bí ẩn như khi xuất hiện. Một cuộc gặp được lồng khung trong hai cảnh bí ẩn ở bảo tàng nơi người ta chiếu tác phẩm video của Douglas Gordon, 24 Hour Psycho, đặt vấn đề về tri giác thời gian bằng cách chiếu đi chiếu lại bộ phim Psycho của Hitchcock suốt một ngày. Bất khả xâm nhập, bí ẩn, lo sao cho mỗi độc giả có được cách diễn giải riêng về cuốn tiểu thuyết, Don DeLillo thích nhấn mạnh vào vai trò người nghệ sĩ và các nguồn cơn không ngờ tới của nghệ thuật nhằm nói ra cái thực. Dù thế nào đi nữa, người vẫn được cho là có khả năng thấu thị vì đã “dự đoán” thảm họa 11 tháng Chín ngay từ cuối những năm 1970, trước hết lại không phải là một nghệ sĩ thị giác ư?
Từ đâu mà ông có sở thích cái bí ẩn và cái bí mật?
Trước hết đó là một vấn đề thuộc về tính cách, và tuy vậy tôi cũng tìm cách đáp ứng những yêu cầu của nhà xuất bản, một cách được chăng hay chớ. Nay thì tôi đã thôi không làm thế nữa rồi, dù cho tôi không hiểu rõ lắm tại sao một nhà văn lại có thể nói nhiều hơn những gì anh ta viết. Tôi thành nhà văn ở cái thời người ta quan tâm rất ít tới các ý định của tác giả, và tôi có xu hướng tin rằng điều đó cũng không tệ lắm đâu. Tôi ngờ rằng các nhà văn trẻ hiện nay đang mắc kẹt trong những cuộc gặp gỡ và phỏng vấn nhằm quảng cáo cho tác phẩm của họ; tôi thì thuộc về một thế hệ khác hẳn. Đôi khi tôi thấy tiến trình phát triển của trường văn học Mỹ thật là tai hại, nhưng tôi cho là cần phải tự đặt mình vào vị trí của các nhà xuất bản, những người có nghề nghiệp ngày càng phức tạp vì lý do ngắn gọn và đơn giản là người ta ngày càng ít đọc hơn. Tôi những muốn nói được với anh rằng vẫn luôn luôn có các nhà văn để độc giả có thể ngốn những cuốn tiểu thuyết, nhưng, với tôi thì điều đó không thực sự đúng.
Việc viết của ông đã bao giờ bị ảnh hưởng từ việc đọc những người cùng thời với ông?
Đối với tôi vấn đề ảnh hưởng là hết sức phức tạp, và tôi không nghĩ việc đọc Thomas Pynchon, chẳng hạn vậy, có thẩm thấu gì vào sáng tạo của tôi. Tôi dành sự ngưỡng mộ không bờ bến cho những cuốn tiểu thuyết Mỹ đáp lại được sự vĩ đại và chiều sâu trải nghiệm của đất nước này, nhưng có phải vì thế mà chúng trở thành các nguồn cảm hứng được hay không? Ngược lại, tôi có một ký ức rất rõ rệt về lần phát hiện ra Joyce, người xét đến cùng không hề truyền cho tôi cảm hứng nào về những đề tài tiểu thuyết của tôi nhưng đã làm tôi ý thức được vẻ đẹp và những sáng tạo không ngờ tới của tiếng Anh. Đặc biệt ba chương đầu của Ulysses là cả một sự khải ngộ. Khi đó tôi 18 tuổi, nhiều năm sau này tôi quay trở lại với chúng và vẫn thường xuyên nghĩ đến chúng, bởi theo một cách nào đấy chúng đã mở cho tôi vào sự phong phú của ngôn từ. Tôi muốn nghĩ mình là một hậu duệ của Joyce, rồi của Faulkner, và tôi tự ghi tên mình vào cái truyền thống hiện đại chủ nghĩa ấy. Ngôn ngữ, anh cũng biết đấy, ngày nay vẫn là mảnh đất duy nhất mà tôi quan tâm.
Nếu đọc báo chí văn chương Mỹ, thì có vẻ như là đất nước của ông đang rất nghi ngại về sự tiến triển của tiểu thuyết. Những ai là Norman Mailer và Saul Bellow của hiện tại?
Có một điều chắc chắn, đó là chúng tôi rất nhớ họ. Quả thực tôi nghĩ văn chương Mỹ đã mất đi vóc dáng của nó, và, ngược lại với những gì người ta muốn chúng ta tin, nó không hề được bù trừ bởi chất lượng các bộ phim Mỹ. Nếu đặt sang một bên khía cạnh thương mại, nền điện ảnh của chúng tôi đã rất xa kỷ nguyên vàng của những năm 1970, sau Làn sóng Mới và ảnh hưởng của các đạo diễn châu Âu. Thật không dễ dự đoán tương lai của thể loại tiểu thuyết, nhưng có thể chờ đợi các dạng ngôn ngữ mới phát triển trong chừng mực những niềm say mê Mỹ ngày càng trở nên có tính chất cá nhân và phân mảnh hơn. Chắc chắn tiểu thuyết sẽ thấm nhuần các công nghệ mới. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thấy xuất hiện các phần mềm viết văn nơi độc giả có thể tạo ra cuốn tiểu thuyết của riêng mình và trở thành nhân vật chính trong sáng tạo của bản thân. Mỗi cá nhân có thể vừa là tác giả, nhà xuất bản và độc giả trong tác phẩm mà họ tạo ra.
Khi tờ Time Magazine mới đây đưa ảnh Jonathan Franzen lên trang bìa, họ cũng không quên nói thêm rằng ông cùng Toni Morrison và Philip Roth là ba bậc thầy cuối cùng của văn chương Mỹ…
Tôi ngạc nhiên lắm! Trong những năm 1970, khi bắt đầu sự nghiệp, tôi hoàn toàn bị giới văn chương lờ đi, và tôi vẫn luôn luôn có cảm giác mình là một nhà văn bên lề. Đó là một vị thế hoàn toàn thích hợp với tôi, và rốt cuộc tôi thấy thích thú điều đó, đến mức không sao hiểu nổi sự hào hứng ngày càng tăng của các nhà phê bình và độc giả dành cho các tiểu thuyết của tôi ngay từ những năm 1980. Tôi tin là tôi đã gặp rất nhiều may mắn, bởi nhiều bạn đồng nghiệp của tôi vẫn còn ở trong bóng tối, và chắc hẳn là vẫn sẽ như vậy lâu nữa. Điều làm tôi ngạc nhiên là với tôi, viết luôn luôn là một công việc cần mẫn. Tôi gặp vô cùng nhiều khó khăn để viết được cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Americana. Trong bốn năm, tôi không biết mình sẽ đi đâu và thậm chí còn không nghĩ nó sẽ được in. Bốn mươi năm sau, tôi vẫn luôn luôn chiến đấu với các văn bản của tôi, và thường xuyên tôi bị nản chí. Nhìn vào cách người ta đón nhận những cuốn sách của tôi, hẳn sẽ không ai ngờ tới điều đó đâu.
Quả đúng là người ta có xu hướng coi hành trình nhà văn của ông như một giấc mơ Mỹ.
Có điều đó đấy, dù cho nó có vẻ kỳ quặc đến đâu. Tôi xuất thân từ một môi trường rất giản dị, và tôi vẫn còn nhớ niềm tự hào của mẹ tôi khi bà đọc thấy tên tôi hoặc bắt gặp một bức ảnh của tôi trên báo. Bố mẹ tôi là di dân Ý, tôi nghĩ văn chương đã cho phép tôi tái tạo hành trình của họ theo một cách thức lạ thường. Họ còn là trẻ con, dĩ nhiên, khi tới Mỹ, nhưng bố mẹ của họ thì đi tìm những chân trời mới và một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bản thân tôi, trong các văn bản của mình, tôi đã vượt qua biên giới của khu Bronx, những đường phố chật hẹp của nó và những con người nhỏ bé của nó, để tự mở cho mình đến với những chân trời mới. Một cách hậu nghiệm, tôi nhận ra điều này có lẽ cũng là một cách để tìm thấy căn cước Mỹ của mình. Tuy nhiên tôi vẫn là một người bên lề. Tôi chưa bao giờ gia nhập một đảng chính trị nào hay tự đặt mình vào bất kỳ truyền thống đặc thù Mỹ nào hết. Tôi tin nghĩa vụ của tiểu thuyết gia là tự do đến cùng.
Nhưng nước Mỹ vẫn luôn luôn là đề tài ưa thích của ông, kể từ nhan đề cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, Americana. Nhất là tôi nghĩ tới những dòng đầu tiên của Underworld: “Anh ta nói giọng của mi, anh ta nói tiếng Mỹ, và trong mắt anh ta có một tia sáng một nửa là hy vọng.”
Đúng thế, tôi vẫn luôn luôn viết về cái phần tối của nước Mỹ, về nỗi khó sống trong những thời đại tối tăm. Để anh có một ví dụ, tuy Underworld có chủ đề là chiến tranh lạnh và có vẻ như vượt qua đường biên giới đất nước của tôi, nhưng phần lớn các nhân vật và mọi quan điểm đều hướng tới việc hiện thân cho trải nghiệm Mỹ. Thậm chí một số độc giả còn nhìn thấy ở nó “cuốn tiểu thuyết Mỹ vĩ đại” mà các tác giả đất nước tôi mơ viết được, nhưng tôi sẽ không đi xa tới tận đó bởi bản thân ý tưởng về một Great American Novel theo tôi đã là một huyền thoại cổ lỗ và cứ bị nhai nhải nhắc đi nhắc lại bởi những người chẳng biết gì về đất nước này. Điều này hẳn xuất phát từ Moby Dick của Melville, cuốn tiểu thuyết có tầm vóc, tham vọng và sự man dã có thể vang vọng cùng nhịp với một ý tưởng nào đó về nước Mỹ. Theo hướng này tôi đồng ý rằng một trong những nền tảng của đất nước này là bạo lực mang tính chất cổ mẫu của nó. Một bạo lực mặt khác đã kéo theo, kể từ những năm 1960, một cảm giác về hoảng loạn như một yếu tố cấu thành về căn cước của chúng tôi. Đó chính là chủ đề ưa thích của tôi, và, tin tôi đi, đó không phải là một huyền thoại đâu. Thời ấy nỗi sợ không phải là một điều huyễn tưởng hay trò làm dáng. Việt Nam, những vụ ám sát chính trị gia, tất tật những thứ ấy chỉ làm một việc là gây đượm đà thêm mùi vị nỗi kinh hoàng mà người ta gần như có thể ngửi hít được – chỉ cần chìa tay ra là thấy ngay. Nỗi hoảng loạn mà ngày nay người ta nói tới chẳng có gì chung với nỗi hoảng loạn của giai đoạn đó.

Magazine Littéraire, số tháng Mười hai 2010
nguon : nhanam.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s