TIỂU THUYẾT CHÍNH TRỊ HẬU HIỆN ĐẠI

Stephen Baker
chuyển ngữ : Phạm Phương Chi

Lời dẫn: Cuốn The Fiction of Postmodernity (Tiểu thuyết hậu hiện đại) của Stephen Baker gồm năm phần (Đánh mất niềm tin: Ý thức hệ và Thời đại của Cái Mới; Những phản ánh hậu hiện đại: Tư tưởng hậu Marxist; Cái hậu hiện đại và Tiểu thuyết lịch sử; Tiểu thuyết chính trị hậu hiện đại; Sự thiếu hụt thời hậu hiện đại: Adorno chống lại Jameson), nghiên cứu  mối quan hệ giữa lí thuyết hậu hiện đại và thực tiễn sáng tác hậu hiện đại.

Ở đây, các tác phẩm của Don Delillo, Toni Morrison, Salman Rushdie, Thomas Pynchon và Martin Amis được đặt trong tương quan với những phê bình về “nền công nghiệp văn hoá”, những phân tích về “điều kiện hậu hiện đại” và các lí thuyết về cái thay thế giả tạo của Theodor Adorno, Jean- Francois Lyotard, Fredric Jameson, Jean Baudrillard. Cuốn sách mô tả về cái hậu hiện đại từ truyền thống phê bình Marxist và từ bối cảnh hậu marxist.

Phần trích dịch sau đây thuộc phần bốn (Tiểu thuyết chính trị hậu hiện đại), phân tích tác phẩm của nhà văn Ấn Độ Salman Rushdie, chủ yếu là cuốn Những vần thơ của quỷ sa tăng (Satanic Verses), trong tương quan với các lí thuyết về điều kiện hậu hiện đại, với bối cảnh Hồi giáo hiện đại, với các phê bình về “nền công nghiệp văn hoá” từ đó, khẳng định diện mạo và giá trị thiết yếu của cuốn tiểu thuyết chính trị hậu hiện đại này (ND).
*
“Không đâu là nhà”: Chính trị  hậu hiện đại và Những vần thơ của quỷ sa tăng
Điều tôi muốn khám phá trong The Satanic Verses (Những vần thơ của  quỷ sa tang) là quan niệm của Rushdie về chủ nghĩa phi-chính thống (anti-foundationalism) hậu hiện đại, sự từ bỏ tiêu chí tiên nghiệm khi phán xét của cuốn tiểu thuyết. Đặc biệt, tôi sẽ khẳng định, The Satanic Verses thể hiện – trên cả trang viết và cả trong ý nghĩa chính trị của nó – sự khủng hoảng của sự hợp thức hóa.
The Satanic Verses là cuốn tiểu thuyết về quyền uy. Thật nhục nhã, nó là cuốn tiểu thuyết tra vấn hoặc đòi hỏi chúng ta phải nghĩ lại các phương diện của quyền uy tôn giáo. Vụ việc của “quỷ thi” chỉ là một thí dụ về sự phê phán của  cuốn tiểu thuyết đối với tính xác thực của mặc khải tôn giáo – và, tất nhiên, đó cũng là sự phê phán đối với cả sự hợp thức hóa của những phán xét nhân danh quyền uy thần thánh hay quyền uy tuyệt đối. Tương tự, Rushdie nhạo báng quyền uy nhà nước Anh qua những đoạn miêu tả sự thô bạo của giới cảnh sát và những câu chuyện bịa khủng khiếp để hợp pháp hóa sự nhạo báng đó. Những phê phán của Ayatollah Khomeini của Iran và Norman Tebbit của thị trấn Chingford (ngoại ô London – ND) đều liên quan đến phương diện này trong tác phẩm của Rushdie.
Nhưng tâm điểm quyền uy của cuốn tiểu thuyết là người kể chuyện, một giọng điệu dẫn dắt chúng ta qua vô số những câu chuyện về  chủ nghĩa hoài nghi chính trị, sự ngờ vực tôn giáo và những chuyện tình phản bội. Điều tôi muốn nói là, trong khi The Satanic Verses kịch hóa những câu chuyện nghi ngờ các hình thức quyền uy xã hội và văn hóa thì Rushdie lại chấp nhận một góc nhìn tự sự cho phép tích hợp chủ đề cấu trúc quyền uy vào chính cấu trúc của cuốn tiểu thuyết.
Đó là cái giọng điệu tự sự đơn mà chúng ta phải tin cẩn, chúng ta phải tính đến động cơ và ý đồ của nó; trên hết, đó là giọng điệu mà chúng ta cần phải xác định nguồn gốc. Khi miêu tả cảnh Saladin và Gibreel rơi khỏi máy bay, Rushdie ngay lập tức hỏi chúng ta “Tôi là ai?”. Đây là một câu hỏi khá có lí, khơi gợi mức độ quan trọng của bản thân; nhưng có lẽ câu hỏi này cũng bóng gió cho thấy rằng lai lịch của ông có thể tác động đến cách diễn dịch của chúng ta về câu chuyện. “Còn ai vào đấy nữa?” không phải là câu trả lời tốt nhất.
Những dấu vết về lai lịch của người kể chuyện có khắp nơi trong văn bản tác phẩm. Hai câu hỏi tôi vừa dẫn chỉ ra rằng những lời chúng ta đọc được là những lời thiêng, rằng người kể chuyện là Chúa. Trong khi đó, tên gọi cuốn tiểu thuyết lại nhắm tới một quyền uy tự sự ít cao quý: Ông tổ Dóc, Satan hay Shaitan. Đấy là hai khả năng đối lập mà người kể chuyện liên tục dùng để khiêu khích chúng ta. Trong truyện, sau khi rơi khỏi thiên đàng hay sau khi được tái sinh trong vụ nổ tái tạo vũ trụ, Saladin và Gibreel trôi dạt vào đất Anh. Người kể chuyện bình phẩm về sự kiện này và về bản thân như sau:
“Rõ ràng tôi biết sự thật. Tôi đã quan sát toàn bộ sự việc. Lúc này tôi chưa thể tuyên bố được cái gì một cách bao quát và đầy đủ được nhưng tôi hi vọng tôi có thể xử lí được vụ việc này. Chamcha muốn và Farishta làm theo.
Người nào có phép thần?
Bài ca của Farishta là theo điệu của thiên thần hay ác quỷ?
Tôi là ai?
Chúng ta hãy hỏi theo cách này: ai có giọng âm tốt nhất?”(1).
Chúng ta đã biết, trong truyện, có một phép màu xuất hiện; nhưng dường như nó được sinh ra từ một bài hát, mà bài hát này lại không được ca sĩ thể hiện thừa nhận, và người ca sĩ này thuộc “loại” nào – thiên thần hay ác quỷ – cũng không có gì chắc chắn. Vì thế, chính  phép màu này trở nên đáng nghi. Ở đây không phải là việc một sự thật được kể lại, mà là việc chúng ta nên phản ứng như thế nào – sùng kính? hay là hãi sợ?
Tình hình trở nên phức tạp hơn khi người kể chuyện quay lại câu hỏi ban đầu về lai lịch của anh ta. Lần này câu trả lời có gợi ý rõ ràng về địa vị ma quỷ của anh ta, nhưng đó vẫn chưa phải là phán quyết cuối cùng. Nếu anh ta là Shaitan, như chính anh ta bóng gió để lộ ra, thì chúng ta có thể đoán, mục đích của anh ta là những trò tinh quái, anh ta muốn đánh lừa chúng ta. Vậy việc anh ta gieo vào lòng độc giả những hồ nghi về phép màu và bài hát của Gibreel có phải là một ví dụ của trò đùa hiểm ác này không? Có thể anh ta đang cố làm cho chúng ta nghi ngờ hay e ngại những dấu hiệu chứng tỏ quyền lực của Thần thánh và lòng trắc ẩn. Nhưng cái giả thiết về người kể chuyện là quỷ lúc này lại nuôi dưỡng một câu hỏi khác liên quan đến phần đầu tác phẩm: có phải toàn bộ sự miêu tả – vụ rơi máy bay và điều thần kì, sự chết đi sống lại – là bịa đặt hoàn toàn? Bởi vì chính hắn nhắc nhở chúng ta rằng hắn là quyền uy duy nhất liên quan đến sự kiện kì diệu này.
Gibreel Farishta đánh mất niềm tin và thực hiện hành vi báng bổ. Chúng ta được nghe kể, những giấc mơ theo sau sự báng bổ của Gibreel có một chức năng đặc biệt: “Sau khi anh ta ăn hết chỗ thịt lợn thì sự báo thù bắt đầu, sự báo thù về đêm, sự trừng phạt của những giấc mơ” (The Satanic Verses, tr.32). Lòng hoài nghi tôn giáo của Gibreel được kịch hóa trong bộ óc mộng mị và trên trang giấy. Người kể chuyện hàm ý, việc bị ám ảnh bởi những giấc mơ như thế là số phận của những kẻ rời bỏ Chúa. Mặc dù vậy, rõ ràng những giấc mơ này còn có dụng ý khác: chúng gợi ý cho độc giả những cách diễn dịch khác, phi chính thống về lịch sử.
Đồng thời, những câu chuyện báng bổ được kể tỉ mỉ trong giấc mơ của Gibreel về xứ Jahilia có thể xem như là biểu hiện tâm lí của lòng bất tin nơi nhân vật (điều này liên quan đến cả những chi tiết tôn giáo và lãng mạn); , nếu chúng ta thử đoán người kể chuyện là quỷ Sa tăng, thì có thể xem những báng bổ kia là sự bóp méo đầy bịp bợp về nguồn gốc Hồi giáo, với ý định dẫn dắt độc giả, như đã từng dẫn dắt Gibreel, đi lầm đường và xúi giục họ nghi ngờ sự chân xác tuyệt đối của đức tin tôn giáo. Những mâu thuẫn của hai chức năng này xuất hiện mà không gây một bất ngờ lớn nào. Ở mỗi trường hợp, việc chúng ta giải thích cách đánh giá tính báng bổ trong những giấc mơ cần phải giả định trước một quyền uy xác định đối với những giấc mơ (với những nguyên cớ và lợi ích rõ ràng). Nhưng những giấc mơ kiểu đó hoàn toàn vắng bóng ở đây. Nói cách khác, The Satanic Verses được nuôi dưỡng bởi một cấu trúc tự sự có vẻ như dẫn người đọc đi tới những đánh giá chính trị hoặc đạo đức về hoạt động kể và hoạt động được kể; những đánh giá đó dựa trên những tiền đề tiên nghiệm về bản chất của quyền uy vốn hay được dẫn ra để biện minh (ví dụ, nếu người kể chuyện là Chúa, thì những giấc mơ là sự trừng phạt; nếu là quỷ Sa tăng, thì đó là sự xúi giục báng bổ). Nhưng cấu trúc tự sự ở đây, đồng thời, cũng cản trở độc giả tiến tới một kết luận về người kể chuyện, bằng cách xây dựng nghịch lí về hai khả năng xác định gốc gác của quyền uy tự sự; mà ở đây, người đọc bị quy định là phải thừa nhận hai khả năng này là đối lập.
Những giấc mơ cũng như câu chuyện trong giấc mơ liên quan đến câu hỏi về cách thức các nền văn hóa và các xã hội thiết lập những quy ước có hiệu lực về lòng sùng kính và trò ma quỷ; những quy ước này gây khó khăn cho độc giả khi tìm hiểu và tin vào giọng của người kể chuyện chính thống. Những rối rắm tinh thần đặt ra với bất cứ độc giả nào, những người trước tiên phải vật lộn với tình trạng thần học mơ hồ (và do đó, cả sự đáng tin) của người kể chuyện, sau đó lại phải xem xét cấu trúc chính trị của toàn bộ quan điểm về cái tôn kính và cái phỉ báng (tức là quan điểm về cái căn cứ vững chắc để nhận dạng dòng tự sự), này chỉ là được hình dung ra.
Tôi khẳng định, việc không thể đưa ra kết luận cuối cùng về người kể chuyện là quỷ hay Thiên thần, hay là cái gì đó ở giữa, buộc người đọc The Satanic Verses phải từ bỏ toàn bộ quan điểm tạo ra những nấc thang chính trị và đạo đức về cái nền tảng có sẵn hay những câu trả lời tiên nghiệm về một người kể chuyện đặc quyền, có khả năng chịu trách nhiệm – một quan điểm mà chính tiểu thuyết này khiêu khích. Những rắc rối thái quá trong việc xây dựng nhân dạng và mức độ đáng tin của người kể chuyện trong tiểu thuyết này khiến cho tất cả những nỗ lực giải thích hay phân tích người kể chuyện uy quyền trở nên phù phiếm và vô lí. Chúng ta phải từ bỏ đức tin trước đây cho rằng, có thể làm phát lộ một câu chuyện chân thật, không tì vết, được ẩn chứa, bằng việc cật vấn địa vị người kể chuyện và khám phá chính xác phạm vi vận động của dòng tự sự. Với tôi, cuốn tiểu thuyết đưa đến kiểu tự sự của chủ nghĩa phi-chính thống hậu hiện đại (ND nhấn mạnh).
Mặc dù vậy, điều này dẫn đến một vấn đề trầm trọng liên quan đến những thảo luận về ý nghĩa chính trị của cuốn tiểu thuyết. Zygmunt Bauman (Nhà xã hội học  Anh – ND) viết như sau:
“Có lẽ phải tranh luận xem, liệu các triết gia hiện đại có làm cho nguyện vọng của mọi người khớp vào nền tảng của các quy tắc đời sống văn minh phương Tây, các quy tắc văn hoá phương Tây, mĩ học, đạo đức, logic, sức mạnh khách quan của lí trí phương Tây, v.v… không. Tuy nhiên, trong thực tế, họ không bao giờ ngừng tìm kiếm một sự hoà hợp như vậy và cũng hiếm khi ngừng tin rằng, cuộc tìm kiếm đó sẽ đem lại – phải đem lại – kết quả. Thời hậu hiện đại được nhận diện bởi sự từ bỏ cuộc tìm kiếm này và nhận thức về tính vô ích của chúng. Thay vào đó, thời hậu hiện đại cố gắng tự điều hoà với tình trạng cuộc sống thường xuyên vô định và nan giải; một cuộc sống không thể chứng tỏ được rằng những xác quyết đặt nền tảng cho tất cả lại vững bền hơn những lẽ thường được định hình trong lịch sử riêng”(2).
Tiểu thuyết của Rushdie xuất hiện để đưa ra chính xác một lời phê bình như vậy. Nó phủ nhận việc các độc giả tìm đến câu chuyện chính đáng của lẽ phải thời Khai sáng để bảo vệ nó khỏi miệng lưỡi của các nhà phê bình nhất thần, thuộc trào lưu chính thống. Cuốn tiểu thuyết tự nó đã gợi ra rằng, những câu chuyện như thế, những câu chuyện bao hàm một mô hình biểu hiện văn hóa tự do và dân chủ không thể bị coi là tiêu chí kết tội. Một cách hài hước, tôi nghĩ đến việc Thomas Docherty đã liên hệ kiểu tiếp nhận chính trị cuốn tiểu thuyết này với thuật ngữ “differand” của Jean-Francois Lyotard, thuật ngữ chỉ “cuộc xung đột giữa (ít nhất) hai nhóm, không thể giải quyết một cách công bằng do thiếu một nguyên tắc xét xử có thể áp dụng cho cả hai lí lẽ”(3). Docherty viết:
“Một mặt tôi muốn khẳng định văn bản này mâu thuẫn với luật lệ Hồi giáo, một mặt, tôi lại không thấy văn bản này phải bị xét xử bởi luật lệ đó hay là duy nhất một luật lệ đó. Ở (ví dụ này), hóa ra chúng ta thiếu một điểm tựa đồng thuận với nền tảng hợp lí ở cả hai mặt”(4).
Một lời biện hộ mang tính chính trị hậu hiện đại về The Satanic Verses, một lời biện hộ thích hợp với quan điểm chính trị của cuốn tiểu thuyết vừa không thể xác định một cách máy móc tác phẩm của Rushdie như là totem cho một nguyên lí trừu tượng, chính thống của “diễn văn tự do” nào đó, vừa không thể chấp nhận nó như là một bài luận phỉ báng (tuy nhiên, trong thực tế, nó vẫn bị phán xử). Thay vào đó, với tôi, vấn đề then chốt là phải nhấn mạnh sự vô cùng cá biệt của cả cuốn tiểu thuyết và cả hoàn cảnh chính trị mà trong đó những lệnh cấm và luật fatwa (tên một luật hồi giáo – ND) được tuyên bố. Đây không phải là việc vi phạm nguyên tắc tôi đã nói ở trên. Đúng là trong một tình thế chính trị nào đó, cần sáng tạo ra những hình thức về “quyền con người” và “diễn văn tự do”. Nhưng ở đây, nó không được thừa nhận là quan điểm hoa mĩ tiên nghiệm vì nó có truyền thống không trung thành với chính những giá trị đó. Cả ở trong và ngoài trang sách, The Satanic Verses sáng tạo ra một thế giới chính trị; đó là thế giới không thể tin vào bất cứ một tiêu chuẩn đã có nào, bất cứ một sự biện minh được thừa hưởng nào; đó là thế giới với các giá trị được công thức hoá theo kiểu mới, xây dựng theo kiểu mới, trong ánh sáng của hoàn cảnh cụ thể và riêng biệt. The Satanic Verses,  suy cho cùng, là cuốn tiểu thuyết nói về việc cái mới đến với thế giới như thế nào (ND nhấn mạnh). Trong phần cuối Wizard of Oz, Rushdie bàn về các kết luận của Frank L. Baum viết trong cuốn sách dành cho trẻ em này. Ông nhấn mạnh cuốn mười sáu, trong đó, dì Em, chú Henry và Dorothy, mặc dù gắn bó thân thiết với thế giới Kansas thân thuộc và sung túc, nhưng tất cả vẫn chuyển tới vùng Oz:
“Cuối cùng xứ Oz đã trở thành nhà; thế giới tưởng tượng đã trở thành thế giới thực khi nó làm thoả mãn tất cả chúng ta, bởi vì sự thật là, có lần chúng ta rời bỏ không gian tuổi thơ và bắt đầu thu vén cuộc sống riêng, chúng ta chỉ tập trung duy nhất vào việc xem chúng ta có gì, chúng ta là gì, chúng ta hiểu rằng, bí ẩn thực sự của đôi hài ngọc không phải là “không đâu nhà”, mà xa hơn, là không có nơi nào nữa giống như nhà: trừ, tất nhiên, ngôi nhà chúng ta xây, hay ngôi nhà được làm cho chúng ta; ở xứ Oz: bất kì nơi nào và tất cả mọi nơi đều không phải là nhà, trừ cái nơi mà từ đó chúng ta bắt đầu”(5).
Kết luận, tôi cho rằng, The Satanic Verses, vừa là sự thực hành mang tính hậu hiện đại những miêu tả của Marx về sự tan chảy của chủ nghĩa tư bản và về quyền lực phá huỷ: “tất cả những gì rắn chắc đều tan thành không khí; tất cả những gì thiêng liêng đều bị báng bổ”, vừa nhấn mạnh yêu cầu không thể tránh được và nó không ngừng nhắc đi nhắc lại là tạo ra cái nhìn phán xét về chính trị và sự thống nhất về chính trị; một cái nhìn và một sự thống nhất được đặt trong phạm vi lịch sử, chứ không phải là những khái niệm siêu việt, xuyên lịch sử hay vật chất hóa.
The Satanic Verses và Cái Mới
Trong bài luận Có phải không có gì là thiêng liêng?, Rushdie miêu tả vai trò của văn học dưới dạng đồng nhất nó với một hình thức khát vọng tôn giáo:
“Rõ ràng là sẽ còn lâu nữa các dân tộc châu Âu mới chấp nhận một ý thức hệ có tham vọng giải thích một cách toàn vẹn, đầy đủ về thế giới. Bởi vì, lòng tin tôn giáo, vốn sâu sắc, vẫn là vấn đề cá nhân. Sự loại bỏ những giải thích toàn vẹn này là điều kiện hiện đại. Và đây là nơi hình thành tiểu thuyết, một hình thức được tạo ra để nói sự tan vỡ của chân lí… Việc đề cao sự truy tìm Chén Thánh hơn là bản thân Chén Thánh, việc thừa nhận rằng tất cả những gì bền vững đã tan thành mây khói, rằng hiện thực và đạo đức không phải là những cấu trúc có sẵn mà là những cấu trúc bất toàn của con người là điểm khởi đầu của tiểu thuyết. Đấy là cái mà  năm 1979, J.-F. Lyotard đã gọi là Hoàn cảnh hậu hiện đại (La Condition Postmoderne). Sự thách thức của văn học là bắt đầu từ điểm này, và nó vẫn tìm cách thoả mãn những đòi hỏi tinh thần không thay đổi của chúng ta”(6).
Ở trên, chúng tôi vừa xem xét trong The Satanic Verses cái kĩ thuật tự sự bắt chước cách trình bày điều kiện hậu hiện đại theo kiểu phản chính thống bằng cách bỏ qua việc áp dụng những quy ước về khả tín hay bất tin trong tự sự. Bây giờ chúng tôi muốn xem xét cách thức khác mà Rushdie làm để bù đắp điều trên bằng cách miêu tả các nhân vật có thừa đức tin vào các đại tự sự không tưởng, có ý muốn tái cấu trúc một quan niệm về Cái Mới.
Vấn đề Cái Mới trong The Satanic Verses¸ bị đặt trước hai câu hỏi: “Tư tưởng của anh là gì?” và “Khi chiến thắng tư tưởng của anh là gì?”. Hầu hết lời phê phán về các phát hiện của Rushdie về Cái Mới tập trung chủ yếu vào việc ông đã miêu tả nguồn gốc sự “Vâng mệnh, quy phục Thiên Chúa” (Submission – Thuật ngữ Hồi giáo, chỉ sự quy phục toàn bộ đối với một Chúa toàn năng duy nhất là đấng Allah Đấng Tối Cao, Đấng Duy Nhất – ND), cái bức rèm hư ảo bảo vệ Hồi giáo. Mặc dù vậy, trong The Satanic Verses, có ít nhất hai mẫu về Cái Mới: Chủ nghĩa Thatcher và Chủ nghĩa Marx (Mặc dù chủ nghĩa Marx ở đây không phải trong biến thể Đông Âu hay Trung Quốc của nó – cái mà Rushdie gọi là “Chủ nghĩa xã hội hiện tồn” – mà dưới hình thức của Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxit) – là Đảng đầu tiên nắm quyền thông qua bầu cử dân chủ như Aijaz Ahmad  nhắc cho chúng ta nhớ). Rushdie nói “Rốt cuộc, Hồi giáo là một trong những hệ tư tưởng vĩ đại nhất đã xuất hiện trên thế giới”, “Tôi cho rằng tư tưởng tiếp theo có quy mô như thế sẽ là Chủ nghĩa Marx”(7). Trong khi đó, việc tuyên bố Chủ nghĩa Thatcher là quy chế của Cái Mới không được Rushdie nói ra như với hai học thuyết trên mà thông qua một nhân vật trong The Satanic Verses, Hal Valance, “sự hiện thân của chủ nghĩa khải hoàn phàm tục”. Hal Valance nói với Saladin Chamcha: “Điều bà ta muốn, điều bà ta nghĩ mình có thể chắc chắn giành được – là tạo ra một giai cấp trung lưu trời đánh ở cái đất nước này… Đó là một cuộc cách mạng đổ máu. Cái Mới đến với đất nước này chất chồng xác chết thối rữa chết tiệt” (Sv, tr.270). Nhưng tác phẩm cũng quan tâm hơn tới vấn đề bạo lực mà Chủ nghĩa Thatcher đưa lại  – đặc biệt là bạo lực có động cơ chủng tộc của các thế lực an ninh. Valance nói đúng: Cái Mới của Thatcher là một “cuộc cách mạng đẫm máu”; và nếu cái chết của nhân vật Dr Uhuru Simba chỉ là một trong hàng triệu phát súng như mấy tay cảnh sát miêu tả thì ít nhất là các nhà tù, nếu không phải là chính đất nước này, có thể sẽ “chất đầy thây xác thối rữa”. Cách thức Valance miêu tả chủ nghĩa Thatcher cho thấy những dấu vết của cuộc tàn sát không cố ý gây ra khi mà những ảo tưởng mang tính thực dân mới xổ tung ra.
Nhưng nếu Chủ nghĩa Thatcher, với xu hướng đàn áp và bạo lực, là một ví dụ về Cái Mới, thì chúng ta  nói thế nào về quan điểm chính trị xã hội của Rushdie trong tiểu thuyết này? Liệu ở đây có sự tiếp nối nỗi thất vọng mang tính hậu hiện đại, sự tiếp tục lời khẳng định tư tưởng hệ về việc không thể tránh được vấn đề bạo lực và đàn áp như Ahmad đã nói khi phân tích tác phẩm The Shame. Nói như vậy là không đúng. Sự kiện Saladin khôn khéo lôi kéo Gibreel chỉ là “tiếng giội lại của một bi kịch”, là sự mô phỏng yếu ớt và méo mó cuộc thuyết phục đầy mưu mẹo của Iago với Othello. Vì thế, chủ nghĩa Thatcher chỉ là một quan điểm Cái Mới khớp với “thời đại suy thoái và hay bắt chước của chúng ta”. Thực sự, đây là một Ngụy Tân (Pseudo-Novum – Cái mới giả), một sự chiếm đoạt vì mục tiêu ý thức hệ, được tiến hành bằng sức mạnh phản động và bảo thủ của thuật hùng biện khoa trương về Cái Mới. The Satanic Verses phản ứng lại điều này bằng việc điển hình hóa cái nhìn về khả năng của Cái Mới trong chính bản thân tiểu thuyết.
Rushdie viết:
The Satanic Verses đề cao cái lai tạo, cái ô tạp, cái hoà trộn, sự biến đổi vốn là kết quả của sự kết hợp đầy mới mẻ, đáng kinh ngạc về con người, văn hoá, quan điểm, chính trị, kịch, nhạc. Nó thích sự lai tạp, sợ sự thuần khiết tuyệt đối. Sự hòa trộn, mớ hổ lốn, một chút này cộng một chút kia là cái cách mà Cái Mới đi vào  thế giới, và tôi vừa cố gắng bao quát điều ấy. The Satanic Verses phụng sự sự thay đổi bằng cách nấu chảy ra và chắp nối lại. Nó là một bài tình ca về bản chất lai tạo của chúng ta”(8)
Tất nhiên, cái nhìn này về sự biến đổi như trên vẫn bỏ ngỏ trước quan niệm của Aijaz Ahmad cho rằng niềm tin vào sự hoán đổi và lai hoá văn hoá như vậy chỉ là triệu chứng của sự đồng hóa vào văn hoá tư bản hậu kì của giai cấp tư sản hậu thuộc địa mà ông coi Rushdie thuộc vào đó. Thế nhưng ở đây chắc chắn còn có một điều không đơn thuần mang tính ý thức hệ thuần túy. Edward Said viết rằng:
“Không có một  bản chất thuần túy tinh khiết mà một số chúng ta có thể quay về, dù bản chất đó có là Hồi giáo thuần túy, Cơ đốc giáo thuần túy, Do Thái thuần túy hay Chủ nghĩa phương Đông, Chủ nghĩa châu Mĩ, Chủ nghĩa phương Tây. Tác phẩm của Rushdie không chỉ nói về sự hoà trộn, mà nó bản thân sự hoà trộn”(9).
Có thể xem Said thuộc giai cấp tư sản mà Ahmad tỏ thái độ không thiện chí, nhưng quan điểm mà Said và Rushdie đưa ra ở đây không thể dễ dàng bỏ qua. Thật nực cười nếu giả bộ rằng những cuộc di cư hàng loạt mà Rushdie đề cập đã không xảy ra. Hơn thế nữa, đây không phải là hiện tượng chỉ tác động đến tầng lớp trung lưu ở Anh; đám thanh niên trong The Satanic Verses, những kẻ vẫn thường hay đến hộp đêm Hot Wax đại diện cho một thế hệ thanh niên người Anh gốc Phi và gốc Á, đám thanh niên ấy là có tồn tại thực. Nhưng hiện tượng chuyển đổi được nói đến trong cuốn tiểu thuyết này cũng liên quan đến cả xã hội Ấn Độ nữa, ít nhất như nó được thể hiện qua cái nhìn của nhân vật Zeeny Vakil: “chẳng phải là toàn bộ nền văn hóa của dân tộc cũng dựa vào nguyên tắc vay mượn bất kể bộ trang phục nào vừa thì mặc, dù đó là của  Aran, Mughal hay Anh quốc; tức là dựa trên nguyên tắc lấy-cái-tốt-nhất và bỏ-cái-còn-lại?” (SV, tr.52). Ở đây, ta cũng lại thấy, một quan điểm có giá trị đang được hình thành; quan điểm này không tìm cách nâng kinh nghiệm của giới trí thức đặc quyền và theo chủ nghĩa thế giới lên vị thế đại diện.
Cái Mới, dù vậy, không thể được phác họa thông qua sự hiện thực hóa cụ thể, thực tế của nó. Thay vào đó, như Adorno giải thích, nó chỉ có thể được miêu tả chính xác như là một khát vọng về cái vắng mặt.
“Cái Mới là khát vọng về cái mới, chứ không phải là bản thân cái mới. Đây là tai họa của những thứ mới. Là sự phủ định cái cũ, cái mới phải phụ thuộc vào cái cũ trong khi tự xem mình phải trở thành Không Tưởng. Một trong những mâu thuẫn cơ bản của nghệ thuật hiện nay là nó muốn thành và phải trở thành Không Tưởng một cách triệt để; bởi vì hiện thực xã hội ngày càng ngăn cản Không Tưởng; trong khi đồng thời, nó lại không nên thành Không Tưởng để khỏi bị kết tội là đưa đến sự nhàn rỗi và ảo tưởng”(10).
Do đó, mĩ học về Cái Mới được khám phá không phải trong bản thân Cái Mới mà trong sự dự phòng Cái Mới. Vì thế, The Satanic Verses phải bóc trần những yếu tố không tưởng hay siêu việt chỉ là ảo tưởng, đồng thời, phải khẳng định động lực thôi thúc những ảo tưởng đó. Cuốn tiểu thuyết không nhấn mạnh nhiều vào những thành tựu và phần thưởng của Cái Mới mà chú ý vào cuộc đấu tranh mà “niềm khao khát Cái Mới” gây ra. Đặc biệt hơn, The Satanic Verses khảo sát và như Said đã nói, nó cũng là hiện thân cho cuộc đấu tranh hướng tới hay dự phòng Cái Mới, một khả năng không tưởng. Đó không chỉ là diễn ngôn không tưởng riêng của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa hậu kì.
Như nhiều nhà phê bình đã nhận xét và như chính Rushdie nhắc đi nhắc lại nhiều lần, The Satanic Verses là tiểu thuyết bị ám ảnh bởi những câu hỏi về chủng tộc và giới(11). Thái độ của Saladin Chamcha khi bị cảnh sát và các nhà cầm quyền nhập cư kiểm soát chỉ là một trong những ví dụ rõ rệt hơn của cuốn tiểu thuyết nói về sự xúc phạm chủng tộc – ngầm ý đó là kinh nghiệm chung của các cư dân da màu ở Anh quốc. Có lẽ, cuốn tiểu thuyết của Rushdie tập trung vào những lăng nhục về thể chất và lời lẽ mà các nhân vật phải chịu đựng ít hơn là vào những hiệu quả tâm lí của những lăng nhục đó; điểm này chúng tôi sẽ nói đến sau. Tuy thế, đến lúc này, cũng đủ để hiểu rằng The Satanic Verses cố gắng đưa ra một vài dấu hiệu được ý thức về cuộc xung đột liên miên, cả về tâm lí và thể chất, mà Rushdie đồng nhất với hoàn cảnh hay tình trạng của người dân Á châu và da đen ở Anh.
Cách xử lí đối với câu hỏi về giới trong tiểu thuyết này thì khác hơn. Phần lớn những dấu ấn liên quan tới vấn đề này của cuốn tiểu thuyết bị làm mờ đi do những công kích nhằm vào chương “Mahound” và “Trở về Jahilia”. Những công kích này cho rằng hai chương trên hoặc là “có tính phương Đông chủ nghĩa” hoặc là “sự báng bổ”. Thực tế, giấc mơ tái hiện lịch sử Hồi giáo nguyên thuỷ của Gibreel Farishta làm nổi lên vị trí lệ thuộc của phụ nữ trong văn hoá Hồi giáo. Rushdie cũng ý thức rõ về cấu trúc của quyền lực; ý thức này lộ ra đến nỗi làm cho một số cảnh có vẻ gây sốc. Các nhân vật bị tước khỏi ánh hào quang của uy quyền tự nhiên do Chúa ban phát; những hành động của những nhân vật khả kính nhất trong lịch sử tôn giáo, giờ đây, hiện ra với vẻ ít cao vời hơn:
“Thời cổ đại, giáo chủ Ibrahim đến thung lũng này cùng với vợ Hagar và con trai Ismail. Ở đây, tại cái nơi hoang vu cằn khô này, ông bỏ mặc vợ. Bà hỏi ông, đó có phải là ý Chúa không? Ông trả lời đúng thế. Và kẻ tàn nhẫn, rời đi. Ngay từ thuở khai sơn lập địa, con người lấy Chúa để biện minh cho những điều không thể biện minh được” (SV, tr.95).
Không cần thiết phải liệt kê những ví dụ như trên được tìm thấy trong giấc mơ về miền đất hứa Jahillia của Gibreel – điều này Rusdie đã làm ở chương “Trong Đức Tin Hoàn Hảo”. Nhưng đáng phải chú ý đến lời phê bình cho rằng The Satanic Verses đã thẩm thấu văn hoá Anh với những định giá và quan điểm mang tính gia trưởng. Về phương diện này, hai nhân vật Pamela Lovelace và Allie Cone giữ vai trò tiêu biểu. Tên nhân vật Allie Cone (vợ của Chamcha) đọc lên nghe giống tên tiếng Anh biểu thị tính dục nữ, cho thấy sự đồng lõa của truyền thống văn hoá văn học Anh trong việc đè nén tình dục phụ nữ và trong xác định “địa vị” phụ nữ trong xã hội theo hướng nam quyền(12). Ở đây, tâm thức phương Đông mà Edward Said xác định bằng lời của  Marx là: “Họ không thể biểu hiện được bản thân; họ bị biểu hiện” có thể thấy ở đây qua sự song hành với những cấu trúc văn hoá của chủ nghĩa giới cho phép phụ nữ được thể hiện và được xác định như thế nào.
Sức mạnh của những quan niệm về giới được ấn định về mặt văn hoá thấy rõ qua hoàn cảnh của nhân vật Allie Cone, cô phải rất đau khổ giữ bí mật về những khung cửa vỡ, vì, nếu tiết lộ, hình ảnh “nữ hoàng băng giá” của cô bị tan vỡ. Những khó khăn gian khổ kì tích trong chuyến leo núi Everest của cô thì bị lờ đi còn việc cô là một phụ nữ (mà lại là một phụ nữ đẹp!) là nguồn gốc đưa danh tiếng và của cải đến cho cô. Chính giới tính của nhân vật chứ không phải thành tích mới thực sự làm cho cô có hình có dáng. Tuy nhiên, cực đoan hơn là trường hợp nhân vật Baby, vợ của Hal Valance. Tác giả viết, “đứa trẻ hoang” này “có thể chỉ bằng một phần ba tuổi của Valance”; “thân hình như bóng ma” của nàng tương phản hoàn toàn với thân hình của chồng, một thân hình, như anh tự nhận, “đang tập luyện để trở thành Orson Welles”. Chính vì nhân vật bị tước bỏ hết ý nghĩa có thể có về nhân phẩm hay nhân dạng như vậy nên việc Chamcha “không thể nhớ nổi tên của đứa trẻ này” không có gì đáng ngạc nhiên.
Cuộc đấu tranh chống lại các lực lượng xã hội thống trị cũng là vấn đề mấu chốt trong câu chuyện về Mahound và sự nghiệp xây dựng sự “Vâng mệnh, quy phục Thiên Chúa” của anh ta. Ở khía cạnh này, cuộc đấu tranh cam go mà Mohound và Gibreel trải qua khi ở trên núi mang ý nghĩa biểu tượng – mặc dù điều này đúng với cả hai nhân vật. Chính cuộc đấu tranh khốc liệt mà nhà tiên tri phải trải qua, lời phỉ báng và giễu cợt không ngớt, đã đẩy nhân vật đi đến thỏa hiệp: “Đôi khi tôi nghĩ tôi phải làm cho nó (đức tin vào một Thiên chúa duy nhất của Hồi giáo – ND) dễ tin hơn” (SV, tr.106). Nhưng quan trọng là ông không làm như vậy. Giống thánh Christ của nhân vật “Điều tra viên vĩ đại” (The Grand Inquisitor) của Dostoevsky, Mahound bỏ cách thức làm cho tín điều của mình trở nên hấp dẫn hơn. Cuộc cải cách của ông (chinh phục người dân Ả rập vốn đang theo tôn giáo đa thần chuyển sang tôn giáo nhất thần, tôn sùng thánh Al lah – ND) vẫn còn lại một trong những “người gánh nước, người nhập cư và nô lệ”, bởi vì ông không sẵn lòng tiến tới một thỏa thuận – theo kiểu-buôn bán với Grandee, người đứng đầu các cuộc thương lượng ở xứ Jahilia. Dự án của Mahound có điểm tương đồng với dự án của Rushdie trong The Satanic Verses: cả hai còn gắn bó chặt chẽ với những hình thức ý thức hệ (Mahound, xét cho cùng, là một thương gia và là người ít hoà hợp với các quan niệm về sự bình đẳng giới); nhưng cả hai đều nghiêm túc cố gắng đưa ra một cái nhìn thay thế cho các giá trị và điều kiện đương thời, và do đó đều tiềm tàng sự triệt để và không tưởng.
Câu chuyện về hai nhà tiên tri Mahound và Ayesha trong giấc mơ của Gibreel rõ ràng có cảm hứng từ sự hợp nhất các quyền lực xã hội với những chấn động tinh thần và những trải nghiệm cá nhân. Ở phần đầu tiểu thuyết, chúng ta được nghe kể “Gibreel được nghe mẹ, bà Naima Najmuddin kể rất nhiều chuyện về Nhà tiên tri, và nếu có những điểm không chính xác len vào câu chuyện, chàng không quan tâm điều không chính xác ấy là gì” (SV, tr.22). Khi chưa thành danh, Gibreel ngồi lì trong phòng, nghiên cứu những chuyện biến hóa, sự kiện được vin vào trong những vần thơ quỷ, “và chủ nghĩa siêu thực trên các tờ báo, trong đó, những con bướm có thể bay vào miệng các cô gái trẻ, đòi chết” (SV, tr.24). Tất cả những trải nghiệm này có một vai trò quan trọng trong nỗi dằn vặt mộng mị mà cuốn tiểu thuyết mô tả. Những ham muốn nhục dục của Gibreel với nàng Allie trung thành cũng có ảnh hưởng. Malise Ruthven (là một trong những học giả nổi tiếng về tôn giáo và chủ nghĩa chính thống – ND), trong bài Câu chuyện quỷ sa tăng (A Satanic Affair), chỉ ra ý nghĩa tên của ngọn núi Mount Cone, nơi Mahound đạt được thiên khải. Ông viết:
“Nơi thiên khải mang cái tên được yêu mến. Sự sụp đổ của xác tín tôn giáo được biểu tượng trong câu chuyện The Satanic Verses, qua hành động phản bội của Gibreel trong cuộc sống quấy phá của anh ta, khi anh ta trở nên bị ám ảnh và thôi thúc bởi tính ích kỉ”(13).
Dù vậy, có lẽ hầu hết giấc mơ tôn giáo của Gibreel được nhào nặn bởi các bộ phim. Trong tác phẩm The Midnight’s children (Những đứa trẻ lúc nửa đêm), Saleen Sinai kể với một linh mục trẻ về việc Mary Pereira miêu tả chiến công đầy bạo lực của Joe D’Costa. Sau đó, Saleem bắt đầu xem xét phản ứng của thầy tu:
“Anh ta sẽ, trong thực tế, hỏi Mary địa chỉ của Joseph, và sau đó khám phá… Tóm lại, có phải ông bố trẻ với cái bụng-khuấy sữa, đầy-rượu thơm này đã cư xử giống như, hay không giống, Montgomery Clift trong bộ phim Tôi thú tội (I confess) không? (Tôi cũng không chắc lắm khi xem bộ phim này ở Rạp New Empire cách đây mấy năm” (MC, tr.105).
Gibreel, một ngôi sao điện ảnh, đạt đến trạng thái sâu hơn Saleem; anh ta, thậm chí, mơ cũng rất điện ảnh. Điều lạ là những bộ phim được phát triển từ các giấc mơ sau này đều không thành công. Nó cho thấy, trước tiên, những giấc mơ thực chất là khởi đầu của những bộ phim. Những trải nghiệm khi mơ được miêu tả giống với những trải nghiệm khi xem hay làm một bộ phim. Đôi lúc, tác phẩm còn mô tả điểm nhìn của Gibreel giống với điểm nhìn của “nhà quay phim và đôi lúc, của khán giả”:
“Hầu như anh ta ngồi trên đỉnh Mount Cone giống như một anh chàng giàu có đang đứng ở ban công rạp hát, và xứ Jahilia là màn bạc của anh ta. Anh ta nhìn và cân nhắc diễn biến của vở kịch giống như bất kì người hâm mộ nào, anh ta thích thú những cuộc đấu, những sự bội tín, những cuộc nổi loạn về đạo đức, nhưng ở đây không đủ gái cho một gã đâm chém, và những bài hát chết giẫm ở đâu rồi?” (SV, tr.108).
Cuộc khủng hoảng đức tin của Gibreel tìm hình thức biểu thị trong nền công nghiệp văn hoá – chính nền công nghiệp này phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng này. Không có gì quá ngạc nhiên khi xem cái nhìn tôn giáo của Gibreel là sa đoạ, thậm chí là rác rưởi hoặc khi xem anh ta hoàn toàn bị dẫn dắt bởi ảo tưởng về cái cao cả, ý thức tôn giáo và ý thức về bản ngã của anh ta bị nhào nặn trong một loại môi trường, ở đó, Greta Garbo và Grace Kelly (“Gracekali” – Cách chơi chữ của Rushdie ghép tên hoàng tử điện ảnh Mĩ với nữ thần tình yêu và tình dục của Ấn Độ; hoặc cũng có thể hiểu là “nụ hoa yêu kiều”, vì chữ Kali còn có một nghĩa khác là “nụ hoa” – ND) được miêu tả như là những nữ thần; danh tiếng của bản thân Gibreel đem đến cho anh ta vị trí xã hội của một vị nửa-thần; anh ta giành được danh tiếng đó bằng việc cá nhân hóa các vị thần trong “các bộ phim thần học”.
Điều mà Rushdie thể hiện thông qua tình cảnh khốn khổ của Gibreel là cuộc vật lộn bi thảm để đưa ra một quan điểm về Cái Mới hoàn toàn không bị chế định bởi các thế lực thống trị xã hội đương thời – trong trường hợp của Gibreel, quan điểm về Cái Mới bị định hình bởi môi trường gần gũi với nhân vật là kinh đô điện ảnh “Bollywood” hào nhoáng. Ở đây, như tôi vừa nói, là những nỗ lực về nghệ thuật của riêng Rushdie trong The Satanic Verses. Tiểu thuyết Sống dậy từ Golgotha (Live from Golgotha) của Gore Vidal dựng lại cảnh thánh Christ bị đóng đinh trên cây thập tự giống như một “sự kiện” trên truyền hình. Vidal gợi ý rằng, đây cũng là cách mà chính các nhà truyền giáo truyền hình đã làm đối với các thần thoại Cơ đốc; chúng bị xâm chiếm và bị đóng gói lại bởi nền công nghiệp văn hoá. Chuỗi giấc mơ trong The Satanic Verses nói với chúng ta những điều giống như thế về công nghiệp điện ảnh Ấn Độ và nguồn gốc của Hồi giáo.
Nếu Aijaz Ahmad kiên định hơn, ông có thể đã thừa nhận quan điểm hợp lí này. Khi bảo vệ Dante khỏi sự công kích của Edward Said, chính ông khăng khăng là cần thiết phải làm sáng tỏ bài thơ Địa ngục (Inferno) bằng ý thức về điều kiện lịch sử đã sản sinh ra tác phẩm. Ông từng viết, “Quan điểm phê bình văn học tôi đang làm là anh không thể đọc thông điệp về Muhammad bên ngoài toàn bộ chuỗi phức hợp khổng lồ này” (IT, tr.189). Nhưng, khi đi vào tác phẩm The Satanic Verses, Ahmad đã hoàn toàn lờ đi những phức tạp về lịch sử và văn học để khẳng định “tính dị giáo và sự thể hiện trực tiếp của cuốn sách về Nhà tiên tri của Hồi giáo và dòng dõi ông ta trong trang phục thô tục hết sức có thể” (IT, tr.214). Ông cho rằng, cái thời điểm lịch sử có quan hệ với tiểu thuyết của Rushdie chỉ là xu hướng phương Đông hoá trong phạm vi văn hoá Anh quốc. Điều này không đúng. Xuất phát điểm ý thức hệ, cái mức độ mà ý thức hệ đó hình thành và giới hạn khả năng tưởng tượng dần trở thành chủ đề trong tác phẩm của Rushdie.
Hình dung về Không tưởng: Xứ Oz (Land of Oz)
Ernst Bloch, khi theo đuổi vấn đề chức năng không tưởng(14) của nghệ thuật, cho rằng, nghệ thuật và văn học là “sự-chưa-ý-thức”; qua đó, ông muốn nói nghệ thuật có khả năng thể hiện một “linh cảm hữu ích”, cái linh cảm này “tự ý thức rất rõ về mình, đặc biệt, như là một thứ gì đó chưa-ý-thức”(15). Khi tiếp tục giải thích quan điểm coi nghệ thuật như là sự chưa-ý-thức, cách mô tả của Bloch ngày càng giống với cách tôi dùng để phân tích hành trình tiến tới sự tự-ý thức về niềm khao khát Cái Mới trong The Satanic Verses:
“Khao khát càng mạnh mẽ, nó ý thức về mình càng rõ ràng hơn… Cái chưa-ý-thức tự nó cũng phải trở nên có ý thức về những hành động riêng của mình; nó phải hiểu rằng, nội dung của nó mang tính kìm hãm và phát lộ. Và do đó, quan trọng là tiến tới một hi vọng rằng, kết quả thực sự của những khao khát trong mơ không chỉ xuất hiện như là một cảm xúc đơn thuần, tồn tại cho nó mà là ý thức và được hiểu như là chức năng có tính không tưởng(16).
Cái “chưa-ý thức” ý thức về mình không phải như là thứ có thể nhận ra trong hiện tại, mà là cái Bloch gọi là “sự soi sáng trước hạn” (Vor-schein). Đó là sức mạnh của tưởng tượng có thể làm biến đổi ý thức theo cách: những cái đang tồn tại có thể được phóng chiếu tới tương lai khác đi ở dạng tiềm ẩn, có thể phóng chiếu tới hoàn cảnh tốt hơn theo hướng dự báo(17).
“Sự soi sáng trước hạn” do nghệ thuật cung cấp, cái có thể tiên định một hình thức tập tục chính trị và văn hoá, là điều cốt yếu mà Rushdie cố gắng đạt được với tư cách là một nghệ sĩ. Theo nghĩa nào đó, các lỗ-hổng-được-chúa-nặn ra tràn ngập tiểu thuyết của Rushdie, ở cả chủ đề và cấu trúc, chỉ có thể được lấp đầy bằng chính những tác phẩm hư cấu như vậy; do đó, cái lỗ đó chỉ như báo trước một tiềm năng giải phóng. Khi Rushdie hỏi:
“Nghệ thuật có thể là nguyên lí thứ ba nối giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần không? nó có thể, bằng cách “nuốt chửng” hai thế giới rồi đưa lại cho chúng ta một cái mới – cái gì đó có thể được gọi như là một định nghĩa trần tục về cái siêu việt không?”(18) thì tôi cảm thấy, ông đang tiến tới một định nghĩa về những khả thể của nghệ thuật giống như định nghĩa của Bloch, và ông đang tìm cách đặt sự mô tả có tính hư cấu về tương lai có thể xảy đến với một sự biến đổi xã hội căn bản vào cái chỗ bây giờ đang bị choán lấp bởi đức tin vào cái tuyệt đối. Nhưng sự bất hạnh bi thảm và sự tất yếu biện chứng của sự mô tả dù sao vẫn phải gắn với những nhu cầu tư tưởng của thời hiện tại bằng cách nào đó. Đây là điều mà chúng tôi quan tâm.
Sự thành lập một nước Ấn Độ độc lập, như suy tính của nhân vật Saleem Sinai trong The Midnight’s children, là kết quả của sự biến đổi hiện thực bằng sức mạnh tưởng tượng như vậy. Ấn Độ, như nhân vật này nói với chúng ta, là “một mảnh đất huyền thoại, một đất nước sẽ không bao giờ tồn tại nếu không nhờ vào những nỗ lực của một ý chí tập thể phi thường và nếu không trong một giấc mơ mà tất cả mọi người đều đồng loạt mơ” (The Midnight’s children, tr.112). Về vấn đề này có thể lấy Gunter Grass làm ví dụ. Aijaz Ahmad chỉ ra, bài viết của Rushdie về Grass bộc lộ sự thiếu lòng tin của ông vào khả năng biến đổi theo hướng không tưởng. Đây là đoạn Rushdie nói về tiểu thuyết Cuộc gặp ở Telgte (The Meeting at Telgte):
“Chủ đề của Grass là cách mà các nhà văn Đức phản đáp trả lại sự sụp đổ; cái cách mà sau thời Hitle cây bút Đức đã viết lại Sáng Thế Kí để đọc: Sau tận cùng là lời. Cách mà họ cắt xé ngôn ngữ của mình và tạo sinh lại nó; cách mà họ dùng  ngôn từ để xung phong, tra vấn, chấp nhận, bao quát và tái sinh; cách con phượng hoàng (phoenix – Chim thần trong thần thoại Ai Cập và các thần thoại phái sinh khác – ND) nhô cái mỏ ra khỏi đống lửa”(19).
Chắc chắn điều chúng ta biết được qua phản ứng của Rushdie về tác phẩm của Grass chủ yếu là phản ứng đối với khả năng tái sinh và khả năng làm mới hiện thực của nghệ thuật. Nhưng, trong khi cho rằng, nỗi thất vọng của Rushdie hiển nhiên có trong cụm từ “bóng đêm đang xuống” thì Ahmad không điều hoà ý kiến của mình, bỏ qua những lập luận của Rushdie về việc Grass đã biến đổi bóng đêm u ám thành một thứ gì đó toả sáng, và trên hết, tràn đầy hứa hẹn. Thực tế, ông quên ngay câu mở đầu: “Để được tái sinh, trước tiên anh phải chết”, câu mà nhân vật Gibreel Farishta hát khi đang lộn nhào từ trên trời xuống (SV, tr.3).
The Satanic Verses, giống như các tiểu thuyết của Grass, không chỉ phản ánh ý muốn thấy hiện thực xã hội được thay đổi, mà còn cho thấy niềm tin của ông vào sức mạnh của hư cấu như được thể hiện thông qua việc nội dung và sự tương tác của cuốn tiểu thuyết với độc giả là một phần tất yếu và quan trọng tham gia vào quá trình thay đổi và giải phóng. Rushdie thừa nhận đã chịu ảnh hưởng tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita của Mikhail Bulgakov. Trong tiểu thuyết này có đoạn, “quỷ dữ đã giáng xuống Moscow và trút cơn giận dữ lên những cư dân hủ bại, thực dụng, suy đồi và tẩy sạch chúng đi, và sau cùng, đó cũng không phải là một gã tồi tệ”(20). Tiểu thuyết của Bulgakov rõ ràng là có ý nghĩa và có ảnh hưởng ở đây, nhưng theo một cách khác. Ở phần cuối, khi quỷ Woland chỉ cho nghệ nhân – nhà văn, cái gã Pontius Pilate – một nhân vật trong sách của ông – đang tuyệt vọng ngồi trong vườn mong được nhìn thấy con đường sáng ánh trăng để có thể trèo lên, gặp lại người tù Ha-Nozri, nhân vật-Chúa, tác phẩm viết:
“Woland lại quay sang Master và nói: “Chà, bây giờ ông có thể kết thúc tiểu thuyết bằng một câu duy nhất!”
Nghệ nhân dường như chờ đợi điều này từ lâu vì ông đứng lên vô cảm, nhìn vào tay biện lí đang ngồi, sau đó bắc tay lên miệng làm loa hét to để âm thanh vang vọng trong những vách đá trụi cây hoang vu:
“Anh được tự do! Anh được tự do! Hắn đang đợi anh!”
Những ngọn núi chuyển giọng nói của Nghệ nhân thành sấm, và sấm phá huỷ những ngọn núi. Những bức tường đá bị nguyền rủa đổ sụp, chỉ để trên đỉnh núi một cái ghế đá. Trên miệng cái vực thẳm đen ngòm nuốt chửng những bức tường hắt lên hình ảnh một thành phố rộng với bức tượng lấp lánh bên trên khu vườn đã trở nên hoang dại trong hàng nghìn mặt trăng. Đường ánh sáng mà Người biện lí chờ đợi từ lâu trải dài đến khu vườn và kẻ đầu tiên bước lên là con chó thính nhạy”(21).
Ở đây, nghệ thuật được miêu tả như là một sức mạnh giải phóng, một sức mạnh có thể tạo ra hiện thực vật chất phù hợp với nguyện ước của đàn ông và đàn bà (hơn là phù hợp với thị hiếu nhất thời của những sức mạnh thị trường). Ảnh hưởng của Rushdie đối với kiệt tác của Bulgakov bao hàm cả việc đánh giá sức mạnh giải phóng của nghệ thuật và việc vứt bỏ tạm thời những sự tương đối dễ dãi và sự thành công máy móc tương đối, mà nhờ đó những  tiềm năng này có vẻ như được thực hiện.
Thay vào đó, Rushdie biết rõ khó khăn của cuộc đấu tranh mà ông dấn thân vào. Sara Suleri, người đưa ra nhận định đánh giá The Satanic Verses là “một cuốn sách Hồi giáo sâu sắc”, đã đến gần vấn đề then chốt này khi nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu cuốn tiểu thuyết trên nền tảng văn hóa của nó, mà nền tảng văn hoá này chính là “bối cảnh cơ bản của chủ nghĩa thế tục Hồi giáo yêu cầu phải chú ý thật kĩ”(22). Bởi vì, theo Rushdie, việc cố gắng tạo ra một cách hiểu mới về mối quan hệ sâu sắc không giải thích nổi giữa người di cư với gốc gác văn hóa của họ, cũng là cố gắng xây dựng một khái niệm có giá trị và quan trọng về chủ nghĩa thế tục Hồi giáo. Trong một bài phỏng vấn cho tờ Die Zeit của Đức, Rushdie nói:
“Những gì tôi đang cố gắng ủng hộ là sự phát triển của truyền thống thế tục trong Hồi giáo mà, ví dụ như, đạo Do Thái đã làm. Có rất nhiều người tự gọi mình là Do Thái thế tục, có rất nhiều người nói rằng văn hóa Do Thái, lịch sử Do Thái và truyền thống Do Thái rất quan trọng với họ nhưng họ không chấp nhận hệ thống thần học”(23).
Nơi Rushdie đặt niềm hi vọng cho những tư tưởng này là tính chất đa tạp của Hồi giáo. Ngay từ năm 1981, Rushdie kịch liệt công kích Nailpaul vì đã phác họa sai về một “thế giới Hồi giáo”(24) thống nhất, thuần chất trong bài Giữa các tín đồ (Among the Believers). Gần đây hơn, ông cũng nhận xét tác phẩm Laicité hay Hồi giáo (Laicité ou Islamisme – ở Pháp và các nước nói tiếng Pháp, Laicité chỉ sự phân chia giữa nhà nước và tôn giáo; chỉ sự vắng mặt của tôn giáo trong các công việc của chính phủ; nó gần gũi với chủ nghĩa thế tục, nhưng không đơn giản là thù địch với tín điều tôn giáo – ND) của Fouad Zakariya là một ví dụ của xu hướng hiện đại và hiện đại hóa tư tưởng Hồi giáo hiện đại mà ông đã cố gắng tham gia(25). Việc các nhóm Hồi giáo ở Ả rập nhân cơ hội những rắc rối chính trị xảy đến xung quanh The Satanic Verses đã phát động cuộc thánh chiến tấn công chủ nghĩa hiện đại trong triết học và văn học chỉ là một trong nhiều dấu hiệu công khai cho thấy, việc xảy đến với Rushdie kể từ khi công bố cuốn The Satanic Verses thực tế là rất ít liên quan đến cuốn tiểu thuyết, mà đúng hơn nó chứng tỏ cuộc xung đột chính trị đang xảy ra trong lòng văn hóa Hồi giáo.
Để kết luận, tôi muốn xem xét những cuộc đấu tranh đặc biệt trong The Satanic Verses thể hiện niềm khao khát hình dùng ra Cái Mới như thế nào. Thực chất, có hai kết luận về cái không tưởng trong cuốn tiểu thuyết này. Thứ nhất là sự hiển linh tôn giáo mà Gibreel Farisha mơ thấy, trong đó nữ tiên tri Ayessha cuối cùng đã cải đạo cho Mirza Saeed Akhtar:
“Anh ta là một cái pháo đài với những chiếc cổng kêu leng keng – Anh ta đang chìm – Cô cũng đang chìm. Anh ta nhìn thấy nước đầy vào miệng cô, nghe thấy nó bắt đầu tràn vào phổi cô. Rồi có cái gì trong anh ta cưỡng lại điều đó, rồi tạo ra sự lựa chọn khác, và khi  anh ta bị vỡ tim thì anh ta mở ra.
Cơ thể anh ta bị tách ra từ cục yết hầu đến bẹn, để cô có thể trôi sâu vào trong anh, và bây giờ cơ thể cô cũng mở ra, cả hai trong nhau, và lúc đó, họ rẽ đôi dòng nước, đi tới Mecca dọc theo bờ biển Ảrập” (SV, tr.507).
Sự biến đổi của Mirza Saeed có hình thức giống với cuộc tra tấn của Muhammad trong Thần khúc của Dante. Anh ta bị tách làm đôi giống như nhà tiên tri Muhammad trong đoạn văn dùng để tái khẳng định đức tin Hồi giáo (hơn là công kích), do đó, một lần nữa đã biến hình thức để đả phá này thành một biểu tượng của sự khẳng định. Việc biển Ả rập mở ra và hành trình đi về Mecca là sự trở lại quê hương tâm linh của những người hành hương. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa tình dục mà cuốn tiểu thuyết thể hiện ở đây đã hòa trộn vào cái nhìn không tưởng mang tính Hồi giáo mà đức tin của nó được chỉ dẫn bởi một nữ tiên tri. Ở đây, những mối ngờ vực bị gạt bỏ bởi sức mạnh của đức tin tôn giáo; sự cám dỗ chạy theo thói tiêu dùng thế tục bị nhường chỗ cho sự tuân phục đối với quyền uy-do-Chúa-gửi-xuống; thực ra cái ảo ảnh này chỉ có trong  mơ hay trong phim mà thôi.
Suy cho cùng “Sự rời bỏ Biển Ả rập” là một cách phản ứng cực đoan để đạt được sự không tưởng đúng đắn. Hàm ẩn trong The Satanic Verses là một gợi ý rằng niềm khao khát không tưởng thật sự không chỉ là sự hoài niệm quá khứ hay từ chối hướng về phía trước Lịch sử theo kiểu Khomenel(26) hay Thatcher(27). Thay vào đó, như chúng tôi đã xem xét lời khẳng định của Ernst Bloch, nó phải “bao gồm việc hướng đến trước hạn khả năng một cái khác, về điều kiện được cải thiện hơn của chúng trong tương lai”. Sự đổi mới lòng mộ đạo sẽ khó đưa lại cho những người di cư như Rushdie một phương pháp mới để hiểu được sự đào luyện văn hóa của họ. Trong phần cuối tiểu thuyết, Saladin Chamcha (người mà sau đó sẽ trở thành Salahuddin Chamchawala) đã nhìn thấy qua cái không tưởng giả tạo một sự đổi mới như vậy.
“Anh ta đứng cạnh cửa sổ của tuổi thơ, nhìn ra biển Arap. Vầng trăng gần tròn; ánh trăng trải dài từ những hòn sỏi của Ngọn Scandal ra tít chân trời xa, tạo nên ảo giác về con đường giát bạc, giống như đường ngôi của mái tóc toả sáng của biển cả, giống con đường đi đến những miền đất huyền diệu. Anh lắc đầu, không tin vào những câu chuyện – thần tiên. Tuổi thơ đã qua, và cái nhìn từ cửa sổ này nhìn ra không còn gì hơn là một tiếng vọng cảm xúc. Cho tất cả xuống địa ngục! Để cho những chiếc xe ủi đến. Nếu cái cũ không chết, cái mới sẽ không thể nào ra đời!” (SV, tr.546).
Ông cố ý nhại lại tiểu thuyết của Bulgakov. Nhưng ở đây, con đường ánh trăng đã bị loại bỏ; và không thể tin vào những câu trả lời dễ dãi, không tính đến những phức tạp và mâu thuẫn của hiện tại.
The Satanic Verses kết thúc với việc Saladin Chamcha trở về nhà và  khám phá ra mình thực sự là Salahuddin Chamchawala. Đây là cái kết mang tính không tưởng thực sự và là sự hồi hương tâm linh thật sự của tác phẩm. Trong lời kết bài Nguyên tắc Hi vọng (The Principle of Hope), Ernst Bloch miêu tả Cái Mới mà chúng ta có thể mượn để hiểu tính xác thực của khát vọng không tưởng trong tiểu thuyết của Rushdie:
“Cội nguồn thực sự không phải ở chỗ bắt đầu mà ở chỗ kết thúc, và nó khởi sự bắt đầu chỉ khi xã hội và tồn tại trở nên triệt để, nghĩa là, nắm bắt được gốc rễ của chúng. Nhưng cái gốc của lịch sử là con người đang làm việc, đang sáng tạo để tạo lại hình dáng của mình và sửa sang lại những thực tế có sẵn. Một khi nó đã hiểu chính mình và xác lập được mình là ai thì không cần một sự chiếm hữu hay tha hóa, trong một nền dân chủ thực sự, từ đó trên thế giới xuất hiện một điều soi sáng thời thơ ấu của  tất cả và ở đó không ai không có quê hương (heimat)”(28).
Việc Bloch nhắc lại thuật ngữ “Heimat” (quê hương) của đảng Nazi (tên viết tắt Đảng do Hitle đứng đầu – ND) để thể hiện cái mục tiêu không tưởng cơ bản, rõ ràng giống với chiến lược tổ chức lại tự sự ở trung tâm của tiểu thuyết Rushdie(29). Nhưng đây là niềm khao khát về quê hương – quê hương mới; trong đó sự phân biệt giữa bản ngã và tha nhân bắt đầu nhạt nhòa đi và mất đi khả năng chi phối tư tưởng con người. Điều này được The Satanic Verses thể hiện rất sâu sắc và cảm động.
Bằng cách chỉ ra việc tái định cư của Dorothy và gia đình ở mảnh đất Oz, Rushdie xác định quê nhà (hay heimat) như là cái mà chúng ta tạo ra một lần nữa; và điều này giải thích vì sao, ở đoạn cuối tiểu thuyết The Satanic Verses, mặc dù Salahuddin đã trở về nhà, nhưng anh ta vẫn chưa ở nhà. Tiểu thuyết của Rushdie không phải miêu tả sự thực hiện cái Mới. Thay vào đó, nó vẫn giữ niềm tin vào châm ngôn của Adorno cho rằng, nghệ thuật chỉ đưa ra “sự khao khát về cái Mới”.
Cái còn lại, và cái thể hiện rằng niềm khát khao đối với Cái Mới chính là bản thân Cái Mới nghệ thuật, là sự cần thiết phải tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị. Khi trở lại Bombay để nhìn mặt cha lần cuối, Salahuddin Chamchawala tham gia vào đoàn biểu tình do Đảng cộng sản Ấn Độ Marxít tổ chức. Chúng ta được nghe kể, “Người quan sát của Đảng: “kể lại một dãy không dứt những người đàn ông và đàn bà nắm tay nhau từ đầu phố đến cuối phố, và Salahuddin, đang đứng giữa Zeeny và Bhupen trên đại lộ Muhammad Ali, không thể chối bỏ sức mạnh của hình ảnh đó. Nhiều người trong đoàn người đó phải rơi nước mắt” (SV, tr.541).
Sau đó, Salahuddin khám phá ra cuộc biểu tình hầu như bị các phương tiện thông tin đại chúng bỏ qua: “Đó chỉ là cuộc trình diễn của những người cộng sản”, Zeeny nói. “Một cách chính thống, thì đây chẳng có sự kiện gì cả” (SV, tr.542). Như vậy, tại Bombay, chính Đảng cộng sản bị biến thành quỷ.
Trong cuốn Những luận điểm về Triết học Lịch sử (Theses on the Philosophy of History), Walter Benjamin viết: “Giống bất kì thế hệ nào trước, chúng ta được trang bị một sức mạnh yếu ớt của Chúa, một sức mạnh mà quá khứ đã xác nhận. Lời xác nhận đó không thể được tạo dựng một cách rẻ mạt”(30). Do đó, sự hợp nhất của một di sản văn hoá Hồi giáo vào cái nhìn có tính chính trị xã hội hiện đại không thể thực hiện một cách dễ dàng. Trong bản miêu tả của Rushdie có một căn nhà được tìm thấy, nhưng nó là một mục tiêu khiến chúng ta phải chuẩn bị đấu tranh, “để chuyển sự lăng mạ thành sức mạnh”, để dự phòng “theo cách trước hạn” rằng, những gì chúng ta biết có thể không tồn tại. Cuộc hành hương không phải đi trên con đường ánh trăng cũng không phải đi bộ trong lòng biển cạn này có thể gặp rủi ro. Việc tác phẩm The Satanic Verses khẳng định, chuyến đi đó là quan trọng, không có sự lựa chọn nào dễ dàng mà đáng tin cậy là tín hiệu của một viễn cảnh không tưởng về chính trị  sâu sắc. Đó là một viễn cảnh mà từ đó di sản của quá khứ văn hoá hay những giới hạn của thời hiện đại, hậu hiện đại dường có thể có nhiều biến động hơn. The Satanic Verses đòi hỏi chúng ta chấp nhận trạng thái nhất thời, chấp nhận việc những chân lí đang có có thể bị cuốn trôi – trong đó chúng ta có thể chấp nhận rằng, những thứ được gọi là “phương Đông” và “phương Tây” là do con người tạo ra, chứ không phải được-đem đến-bởi Chúa và quỷ xét cho cùng cũng chưa hẳn là quá xấu xa. “Và chúng ta”, như Rilke viết:
“những người luôn luôn nghĩ
                             rằng hạnh phúc đến
sẽ cảm nhận mối xúc động
                             rằng hầu như chúng ta bị giật mình hoảng hốt
                                         khi cái điều hạnh phúc sụp đổ(31)
                                                     
(trích dịch từ cuốn The Fiction of Postmodernity.
Edinburgh University Press, 2000
Stephen Baker
Đại học South Bank, London – Vương quốc Anh.)
____
(1) Salman Rushdie: The Satanic Verses, tr.10. Những trích dẫn khác về tác phẩm này là cùng một ấn phẩm và sẽ được đánh dấu trong văn bản bởi chữ viết tắt là SV.
(2) Zygmunt Bauman: Chương “Sự sụp đổ của nhà lập pháp” trong cuốn Chủ nghĩa hậu hiện đại:Một độc giả, Thomas Docherty chủ biên, tr.135.
(3) Jean – Francois Lyotard: The Differand, tr.XI.
(4) Thomas Docherty: The Alterities (thuật ngữ này để chỉ sự chấp nhận cái Khác biệt – ND), tr.199.
(5) Rushdie: Xứ Oz, tr.57.
(6) Salman Rushdie: Chương “Có cái gì linh thiêng không” trong cuốn Những quê nhà ảo, tr.422.
(7) Salman Rushdie: Chương “Lửa của những tín điều” trong Appignanesi.
(8) Rushdie: “Trong đức tin hoàn hảo” trong cuốn Những quê nhà ảo, tr.422.
(9) Said: Trong cuốn  Thằng cha Rushdie của Appignanesi và Maitland, tr.177.
(10) Adorno: Lí thuyết mĩ học, tr.47.
(11) Ví dụ, xem cuốn Salman Rushdie của Brennan, tr.143 đến tr.166.
(12) Tên của Pamela, như James Harrison gợi ý, cũng là một sự mã hóa một ám chỉ tới người vợ đầu của Rushdie:Clarissa Luard. Xem cuốn Salman Rushdie của Harrison, tr.6-7.
(13) Malise Ruthven: Câu chuyện về Satan, tr.25.
(14) Errnst Bloch: Chương “Nghệ thuật và Ảo tưởng” trong cuốn Hư cấu ảo tưởng trong Nghệ thuật và Văn học, tr.78-155.
(15) Như trên, tr.104.
(16) Như trên, tr.105.
(17) Như trên, tr.105.
(18) Rushdie: Chương “Có phải không có gì là thiêng liêng”, tr.420.
(19) Rushdie: Chương “Gunter Grass” trong cuốn Những quê nhà ảo, tr.273.
(20) Rushdie: Chương “Trong đức tin hoàn hảo”, tr.403.
(21) Mikhail Bulgakov: Nghệ nhân và Margarita, tr.387.
(22) Suleri: Chương “Buôn lậu và các sự kiện”, tr.605.
(23) Salman Rushdie:  Trả lời phỏng vấn tờ Die Zeit, tr. 69. Andrea Heilmann dịch.
(24) Salman Rushdie: “Naipaul giữa các tín đồ” trong cuốn Những quê nhà ảo, tr.373-375.
(25) Salman Rushdie: Chương “Nghìn ngày trong khí cầu”, cuốn Những quê nhà ảo, tr.436.
(26) Xem Rushdie: “Vị chúa chúng tôi tin” trong Những quê nhà ảo, tr.383-384.
(27) Xem Rushdie: Chương “Ngoài cá voi”, tr.92.
(28) Ernst Bloch: Nguyên lí hi vọng, tập 9, tr.1375-1376.
(29) Về những phê bình của riêng Rushdie về sự tái chiếm từ “Haimet” của văn học, xem Salman Rushdie, chương “Siegfried Lenz” trong cuốn Những quê nhà ảo, tr.285-287.
(30) Water Benjamin: “Những luận điểm về Triết học Lịch sử” trong cuốn Những sự soi sáng, tr.254.
(31) Rainer Maria Rilke: “Khúc bi thương thứ mười” trong cuốn Những khúc bi thương Duino, tr.94.
nguon : vienvanhoc.org.vn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s