ĐIỆU VALSE GIàTỪ

tiểu thuyết của Milan Kundera
chuyển ngữ : Cao Việt Dũng


CHƯƠNG BA (b)
7.
Ruzena ngồi từ rất lâu trên một chiếc ghế trong vườn công cộng, không còn khả năng nhúc nhích, chắc chắn cả suy nghĩ của cô cũng đã trở nên bất động, cố định vào một điểm duy nhất nào đó.
Mới ngày hôm qua cô còn tin những gì nghệ sĩ kèn trompet nói. Không chỉ vì điều đó thật êm ái, nhưng còn vì nó là đơn giản nhất, cô có thể, với tâm trí bình an, từ bỏ một trận chiến mà cô không đủ sức để đi đến cùng. Nhưng từ khi các đồng nghiệp chế nhạo cô, cô lại nghi ngờ anh và thấy căm ghét khi nghĩ về anh, trong thâm tâm lo là mình không đủ mưu mẹo và cứng rắn để chinh phục anh.


Cô hững hờ xé giấy bọc gói quà mà Frantisek đưa. Bên trong có một miếng vải màu xanh nhạt và Ruzena hiểu anh ta tặng cho cô một chiếc áo ngủ, một chiếc áo ngủ mà anh ta muốn cô mặc để ngắm nhìn hàng ngày, hàng ngày và rất nhiều ngày và cả cuộc đời. Cô ngắm màu xanh nhạt của vải và tưởng như cái vết xanh đó rơi xuống, lan rộng, biến thành đầm lầy, đầm lầy lòng tốt và tận tuỵ, đầm lầy tình yêu cúc cung cuối cùng sẽ nuốt lấy cô.
Cô căm ghét ai hơn ai? Người không muốn cô hay người muốn cô?
Cô ngồi đóng đinh trên ghế, không hay biết đến những gì đang diễn ra xung quanh. Một chiếc mini bus màu xanh dừng lại ở vệ đường, đi theo là một chiếc xe tải màu xanh đóng chặt, từ đó vọng ra đến chỗ Ruzena những tiếng gầm gào và tiếng chó sủa. Ca xe mini bus mở ra và một ông già nhảy xuống tay đeo một tấm băng. Ruzena nhìn ra trước mặt, vô định, mất một lúc cô không hiểu mình đang nhìn gì.
Ông già hét lên ra lệnh về phía chiếc mini bus và một ông gìa khác xuống xe, tay cũng đeo băng đỏ và cầm một cái sào dài ba mét ở đầu gắn một cái rọ sắt. Những người khác cũng xuống xe và xếp hàng trước xe. Toàn bộ, những ông già, mỗi người đeo một băng đỏ và mỗi người cầm một cái sào đầu gắn rọ sắt.
Người xuống đầu tiên không có sào, chỉ ra lệnh, các ông già, như một đội phóng lao dị thường, đứng nghiêm rồi nghỉ nhiều lần. Sau đó người đàn ông hét một lệnh khác và đội ông già chậm rãi chạy vào khu vườn công cộng. Ở đó, họ tản ra, mỗi người chạy về một hướng, một số trong các lối đi, những người còn lại trên bãi cỏ. Các bệnh nhân đi dạo trong vườn, trẻ con đang chơi, tất cả dừng lại sửng sốt nhìn các ông già lao lên tấn công, vũ trang bằng những chiếc sào dài.
Ruzena thoát khỏi trạng thái đờ đẫn và suy tử để quan sát điều đang diễn ra. Cô nhận ra  bố mình trong số các ông già và kinh tởm nhìn ông, không chút ngạc nhiên.
Một con chó hoang đang chạy chơi trên bãi cỏ dưới gốc một cây dương. Một ông già chạy về phía nó, con chó ngạc nhiên nhìn lại. Ông già chìa  cái sào quá dài, hai bàn tay già nua lại yếu ớt, ông già chụp trượt. Cái rọ sắt chao đảo quanh đầu con chó, nó tò mò ngắm nhìn cảnh tượng đó.
Nhưng đã có một ông già về hưu khác có cánh tay khoẻ mạnh hơn chạy đến để giúp đỡ ông ta, và con chó nhỏ cuối cùng cũng bị chui vào cái rọ. Ông già kéo cái sào, thanh sắt cứa vào cái cổ nhung và con chó rú lên. Hai ông già cười lớn, lôi con chó trên bãi cỏ ra đến chỗ mấy cái xe. Họ mở cánh cửa lớn của xe tải, từ đó vọng ra tiếng chó sủa ầm ĩ, họ ném con chó hoang vào trong đó.
Với Ruzena, điều cô nhìn thấy chỉ là một yếu tố của câu chuyện của chính cô, cô là một người phụ nữ bất hạnh  bị kẹp giữa hai thế giới, thế giới của Klima ném cô ra, thế giới Frantisek mà cô muốn thoát ra (thế giới của tầm thường và buồn chán, thế giới của thất bại và đầu hàng hiện giờ đang đến đây tìm kiếm cô dưới dạng đội bắt chó này, như thể nó muốn nhốt cô vào một cái rọ sắt kia.
Trên một lối đi trải cát của khu vườn công cộng, một thằng bé khoảng mười một tuổi tuyệt vọng gọi con chó của mình đang chui vào bụi rậm. Nhưng thay vào chỗ con chó, bố của Ruzena với chiếc sào dài trên tay đã chạy đến cạnh thằng bé. Nó im lặng ngay lập tức. Nó không dám gọi chó nữa, sợ ông già kia sẽ bắt nó mất. Nó chạy vào lối đi để trốn, nhưng ông già đã bắt đầu chạy. Lúc này, hai người chạy ngược chiều nhau. Bố Ruzena vũ trang bởi chiếc sào và thằng bé thì vừa chạy vừa nức nở. Đứa trẻ bỗng chạy ngược trở lại. Bố Ruzena cũng chạy ngược trở lai, hai người lại chạy ngược chiều nhau.
Một con chó giống teckel chui ra từ bụi cây. Bố Ruzena chìa sào về phía nó, nhưng con chó đột ngột lách ra và chạy về phía thằng bé, thằng bé nhấc nó lên và ôm nó vào lòng. Các ông già khác lao vào để hỗ trợ cho bố Ruzena giật con chó từ tay thằng bé. Thằng bé khóc rống lên, hò hét và đánh trả, đến mức các ông già phải xoắn tay nó lại và  bịt miệng để tiếng hét của nó không gây quá nhiều cho với những người đi qua ngoái nhìn nhưng không hề có ý định can thiệp.
Ruzena không muốn nhìn thấy bố mình và những người bạn của ông nữa. Nhưng đi đâu đây? Ở phòng mình cô có một cuốn truyện trinh thám chưa đọc xong mà cô không thích, ở rạp chiếu một bộ phim cô đã xem, và ở sảnh khách sạn Richmond có một chiếc tivi lúc nào cũng bật. Cô chọn tivi. Cô đứng lên khỏi ghế và, trong tiếng ồn ào của các ông già vẫn tiếp tục vang đến từ mọi hướng, cô chợt có ý thức rất rõ về cái mình đang mang trong cơ thể mình, nó là linh thiêng. Cô tự nhủ mình không có quyền bỏ nó đi, cô không có quyền làm hại nó, bởi vì, trong bụng cô giờ đây cô đang mang niềm hy vọng duy nhất của mình, chiếc vé duy nhất để đi vào tương lai của cô.
Khi đến đến cuối vườn, cô nhìn thấy Jakub. Anh đang đứng trên vỉa hè trước khách sạn Richmond quan sát cảnh tượng đang diễn ra trong khu vườn công cộng. Cô mới chỉ nhìn thấy anh một lần, trong bữa trưa, nhưng cô vẫn nhớ anh. Người bệnh nhân đang tạm thời là hàng xóm của cô, người đập tường mỗi khi cô bật radio quá to, vô cùng ghét cô, đến mức Ruzena chú ý một cách đặc biệt kinh tởm đến tất cả những gì liên quan đến cô ta.
Cô ghét luôn khuôn mặt người đàn ông này. Cô thấy nó đầy vẻ châm biếm. Ruzena ghét sự châm biếm. Cô luôn nghĩ là sự châm biếm (tất cả các dạng châm biếm) đều giống như một trạm gác có vũ trang đặt ở lối vào tương lai, nơi mà cô, Ruzena, muốn bước vào, và trạm xét đó dò xét cô với con mắt săm soi và ném cô ra bằng một cái gật đầu. Cô ưỡn người ra trước và quyết định đi qua trước mặt người đàn ông đó với tất cả vẻ cao ngạo thách thức của cặp vú cô, với tất cả sự kiêu hãnh của chiếc bụng cô.
Và người đàn ông đó (cô chỉ quan sát anh ta bằng khoé mắt) đột nhiên nói dịu dàng và êm ái:
–         Đến đây nào…đến đây nào…
Thoạt tiên cô không hiểu tại sao anh nói điều đó với cô. Sự dịu dàng trong giọng nói của anh làm  cô xao xuyến, cô không biết phải trả lời thế nào. Nhưng sau đó, khi quay lại, cô nhìn thấy một con chó giống boxer to có cái mõm xấu xí dị dạng đang chạy theo anh.
Giọng nói của Jakub cuốn hút con chó. Anh tóm lấy cổ dề nó.
–         Đến đây nào, không thì mày toi đấy – Con chó hướng về phía Jakub khuôn mặt đầy tin tưởng, lưỡi nó thò dài ra như một lá cờ vui vẻ.
Đó là một giây phút đầy nhục nhã lố bịch, thoáng qua nhưng rất rõ ràng, người đàn ông đó chẳng thèm để ý đến sự cao ngạo lẫn kiêu hãnh của cô. Cô thì lại tưởng anh ta nói với mình, hoá ra lại nói với một con chó. Cô đi qua trước mặt anh và dừng lại ở thềm khách sạn Richmond.
Hai ông già cầm sào chạy từ vườn ra, lao về phía Jakub. Cô ác ý ngắm nhìn cảnh tượng và không khỏi đứng về phía các ông già.
Jakub cầm cổ dề con chó dẫn đến thềm khách sạn, một ông già hét lên về phía anh:
–         Bỏ ngay con chó ra!
Và một ông già khác:
–         Nhân danh pháp luật!
Jakub vờ như không để ý đến mấy ông già và tiếp tục di, nhưng từ đàng sau một chiếc sào đã chầm chậm buông xuống và cái rọ sắt vụng về lơ lưng trên đầu con chó.
Jakub nắm lấy đầu sào và hất mạnh nó ra.
Ông già thứ ba chạy đến gào lên:
–         Làm thế là vi phạm pháp luật đấy! Tôi gọi cảnh sát bây giờ!
Và giọng nói the thé của một ông già khác tố cáo:
–         Nó đã chạy vào công viên! Nó chạy qua khu vui chơi, mà khu đấy thì cấm chó! Nó đái lên cát của bọn trẻ con! Anh yêu chó hơn trẻ con đấy.
Ruzena ngắm nhìn cảnh tượng từ thềm khách sạn và sự kiêu hãnh mà cô cảm thấy giây phút trước đó trong bụng mình trào dâng khắp người cô và làm cô tràn đầy sức mạnh nổi loạn. Jakub và con chó tiến lại gần cô trên mấy bậc thang và cô nói với Jakub:
–         Ông không có quyền mang chó vào đây.
Jakub đáp lại giọng bình tĩnh, nhưng cô không thể lùi được nữa. Cô đứng đó, hai chân dạng ra, trước cửa khách sạn Richmond và cô nhắc lại:
–         Đây là khách sạn của  bệnh nhân, không phải khách sạn cho chó. Ở đây cấm chó.
–         Tại sao cô không cầm lấy một cái sào gắn rọ, cô ấy? – Jakub nói, định cùng con chó đi qua ngưỡng cửa.
Ruzena nhận ra trong câu nói của Jakub sự châm biếm mà cô căm ghét, cái đã ném trả cô về chỗ mà cô vừa rời khỏi, nơi cô không muốn ở. Cơn giận bùng cháy trong cái nhìn của cô. Cô tóm lấy cổ dề con chó. Giờ đây cả hai đều tóm lấy con chó. Jakub lôi nó về phía trong và cô kéo nó ra phía ngoài.
Jakub nắm lấy cổ tay Ruzena và gỡ tay cô khỏi cổ dề con chó, mạnh đến mức cô phải chao đảo.
–         Ông yêu chó hơn là trẻ con trong nôi! – cô hét lên.
Jakub quay lại và cái nhìn của họ giao nhau, gắn chặt với nhau trong một nỗi hận thù bất chợt và trần trụi.

 
8.

Con chó boxer nhảy nhót trong phòng, tò mò nghiêng ngó và không chút ngờ là mình vừa trải qua một cơn nguy hiểm. Jakub nằm dài trên đi văngã tự hỏi sẽ làm gì với nó. Anh thích con chó, nó cuộc vui vẻ và rất ngây thơ. Chỉ sau vài phút nó đã quen được với một căn phòng lạ, vô lo, và kết bạn thân thiết với một người lạ rất đáng ngờ càng khẳng định thêm sự ngu ngốc của nó. Sau khi đã ngửi hít khắp phòng, nó nhảy lên đi văng nằm bên cạnh Jakub. Jakub ngạc nhiên nhưng anh không nề hà gì đón nhận ngay cử chỉ tình bạn này. Anh đặt tay lên sống lưng con chó và vui thích cảm nhận thân thể nóng hổi của con vật. Anh vẫn luôn yêu chó, chúng gần gũi, thân thiết, tận tuỵ và cùng lúc, không thể hiểu được. Người ta không bao giờ biết được trong đầu và trong tim những sứ giả tin cậy và vui vẻ của thiên nhiên khó hiểu này có gì.
Anh gãi gãi sống lưng con chó và nhớ lại cảnh mà anh vừa chứng kiến. Trong mắt anh các ông già vũ trang bằng sào dài không khác mấy các cai ngục, các thẩm phán và các chỉ điểm viên chuyên rình xem hàng xóm có vừa đi chợ vừa nói chính trị không. Điều gì đã đẩy những con người đó làm cái công việc đáng ghê tởm đó? Vì ác tâm? Chắc chắn rồi, nhưng cũng vì khoái cảm mang lại trật tự nữa. Vì khoái cảm về trật tự muốn biến thế giới của con người thành một sự ngự trị vô cớ ở đó mọi sự diễn ra, vận hành, phó mặc cho một ý chí vô nhân xưng. Khoái cảm trật tự đồng thời cũng là khoái cảm về cái chết, bởi vì cbsn vĩnh viễn là sự vi phạm trật tự. Hoặc, ngược lại, khoái cảm trật tự là cái cớ về mặt đạo đức qua đó sự hằn học của người với người tự biện hộ được cho các xấu xa của mình.
Rồi anh nghĩ đến cô gái tóc vàng vừa nãy đã định ngăn cản anh vào khách sạn Richmond cùng với con chó, anh cảm thấy căm ghét cô một cách đau đớn. Các ông già tay cầm sào không khiến anh tức tối, anh biết họ rất rõ, anh đã ý thức được , không bao giờ anh ngờ là họ có tồn tại và phải tồn tại và sẽ luôn luôn hành hạ anh. Nhưng cô gái đó, đó là thất bại vĩnh viễn của anh. Cô đẹp và xuất hiện trong màn giằng co đó không phải với tư cách người hành hạ mà giống như một khán giả, bị cảnh tượng cuốn hút, đã tự đồng nhất với những kẻ hành hạ. Jakub luôn kinh hoàng với ý nghĩ những người đứng nhìn sẽ sẵn sàng giúp giữ chặt nạn nhân trong cuộc trừng trị. Bởi vì, theo thời gian, đao phủ đã trở thành một người gần gũi và thân thiết, trong khi người bị xử quyết thì bốc mùi quý tộc. Tâm hồn của đám đông xưa kia từng đồng nhất với những người bị hành hạ khốn cùng giờ đây đồng nhất với sự khốn cùng của những kẻ hành hạ. bởi vì ở thế kỷ của chúng ta sự truy đuổi con người là sự truy đuổi những người được nhiều ưu tiên: truy đuổi những người đọc sách hoặc những người có chó.
Anh cảm thấy dưới tay mình cơ thể ấm nóng của con vật và tự nhủ cô gái tóc vàng đó đã đến thông báo với nó, bằng một dấu hiệu bí mật, rằng nó sẽ không bao giờ được yêu mến ở đất nước này, và cô, đại diện của nhân dân, sẽ luông sẵn sàng giữ nó lại để hiến lên những kẻ đe doạ nó bằng những cái sào gắn rọ sắt. Anh ôm lấy con chó, kéo nó vào lòng. Anh nghĩ mình không thể để nó ở lại đây phó mặc cho số phận, anh phải mang theo nó đi xa khỏi đất nước này như một kỷ niệm về các cuộc xử quyết, như một trong những cá thể đã trốn thoát được nó. Rồi anh tự nhủ anh đang giấu ở đây con chó vui vẻ như một kẻ đi đày đang trốn cảnh sát, anh thấy ý nghĩ đó ngộ nghĩnh.
Có tiếng gõ cửa và Skreta bước vào:
–         Cậu về đây rồi, sao lâu thế. Tớ tìm cậu suốt buổi chiều. Cậu đã ở đâu vậy?
–         Tớ đã gặp Olga và sau đó… – anh muốn kể về chuyện con chó nhưng Skreta đã ngắt lời.
–         Nhẽ ra tớ phải nghì đến chuyện đó rồi chứ. mất toi từng ấy thời gian trong khi chúng ta có bao nhiêu chuyện để bàn! Tớ đã nói với Bertlef rằng cậu ở đây và tớ đã dàn xếp để ông ấy mời cả hai chúng mình đến.
Lúc đó con chó nhảy từ đi văng xuống, lại gần bác sĩ, đứng lên trên hai chân sau, hai chân trước đặt trước ngực. Skreta gãi gãi gáy con chó:
–         Nào, Bob, rồi, mày ngoan lắm… – anh nói, không hề ngạc nhiên.
–         Nó tên Bob?
–         Phải, Bob – Skreta nói và giải thích con chó thuộc về ông chủ một quán trọ trong rừng không xa thành phố lắm, tất cả mọi người đều biết con chó vì nó chạy rông khắp nơi.
Con chó hiểu người ta đang nói về nó, điều đó làm cho nó vui sướng. Nó vẫy đuôi và muốn liếm mặt Skreta.
–         Cậu là một tâm lý gia tài năng – bác sĩ nói – Hôm nay cậu phải giúp mình nghiên cứu ông ấy thật cặn kẽ. Tớ chưa biết sẽ đánh vào mặt nào. tớ có rất nhiều dự định với ông ấy.
–         Bán tranh tôn giáo à?
–         Tranh tôn giáo là một trò điên rồ – Skreta nói – Còn có cái quan trọng hơn nhiều cơ. Tớ muốn ông ấy nhận tớ làm con nuôi.
–         Ông ấy nhận cậu làm con nuôi?
–         Ông ấy nhận tớ làm con như con trai ấy. Điều đó với tớ là rất quan trọng. nếu trở thành con nuôi ông ấy, tớ sẽ tự động có quốc tịch Mỹ.
–         Cậu muốn di tản à?
–         Không. Ở đây tớ có nhiều việc lâu dài, tớ không muốn cắt đứt. Nhưng, hôm nay tớ phải nói với cậu, bởi vì tớ cần cậu giúp dỡ trưởng cho những công việc ấy. Nhưng với quốc tịch Mỹ tớ sẽ có hộ chiếu Mỹ và đi du lịch thoải mái khắp thế giới. Cậu biết rõ là nếu không thế thì một người bình thường sẽ không bao giờ có thể ra khỏi đất nước của mình. Mà tớ thì vô cùng muốn đến Ailen.
–         Tại sao lại phải là Ailen?
–         Đó là nơi tốt nhất thế giới để câu cá hồi – Skreta nói và anh tiếp tục – Có một chuyện hơi phức tạp là Bertlef chưa đủ già để làm bố tôi. Cần phải giải thích cho ông ấy là tình bố con nuôi là một trạng thái pháp lý không có gì chung với tình bố con tự nhiên và, về mặt lý thuyết mà nói, ông ấy có thể là bố nuôi của tớ ngay cả khi ông ấy ít tuổi hơn tớ. Có lẽ ông ấy sẽ hiểu điều đó, nhưng ông ấy có một người vợ rất trẻ. Đó là một trong số các bệnh nhân của tớ. Ngày kia bà ta sẽ đến đây. tớ đã bảo Suzy đi Praha đón bà ta ở chân cầu thang máy bay.
–         Suzy có biết gì về kế hoạch của cậu không?
–         Tất nhiên rồi. Tớ ra lệnh bằng mọi giá phải chiếm được cảm tình của bà mẹ chồng tương lai.
–         Thế còn ông người Mỹ? Ông ấy nói gì về chuyện đó?
–         Đó chính là điểm khó nhất. Ông ấy không có khả năng hiểu được khi người ta nói mập mờ. Chính vì thế tớ mới cần đến cậu, để cậu nghiên cứu ông ấy và nói cho tớ biết phải làm thế nào với ông ấy.
Skreta nhìn đồng hồ và nói Bertlef đang đợi họ.
–         Nhưng chúng ta làm gì với Bob bây giờ? – Jakub hỏi.
–         Sao cậu lại dẫn nó vào đây? – Skreta hỏi.
Jakub giải thích cho bạn anh đã cứu sống con chó thế nào, nhưng Skreta đang chìm đắm vào những suy nghĩ của mình nên chỉ nghe một cách lơ đãng.
Khi Jakub nói xong, anh nói:
–         Bà chủ nhà trọ là một bệnh nhân của tớ . năm kia bà ấy đã đẻ một thằng bé đẹp tuyệt. Họ rất yêu quý Bob, ngày mai cậu phải mang nó trả lại cho họ. Trong khi chờ đợi, chúng ta sẽ cho nó một liều thuốc ngủ để nó để yên cho chúng ta.
Anh rút từ trong túi một tuýp thuốc, lấy ra một viên. Anh gọi con chó lại gẫn, vạch mồm nó ra và ném viên thuốc vào họng con chó.
–         Một phút nữa nó sẽ ngủ rất ngon – anh nói và cùng Jakub ra khỏi phòng.

 
9. Bertlef chào mừng hai người khách và Jakub nhìn quanh căn phòng. Anh tiến lại gần bức tranh vẽ một vị thánh râu rậm:
–         Tôi nghe nói là ông có vẽ – anh nói, với Bertlef.
–         Vâng – Bertlef trả lời – đó là thánh Lazare, ông thánh bảo mệnh của tôi .
–         Tại sao ông lại vẽ ông ấy có vòng hào quang màu xanh? – Jakub tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi.
–         Tôi rất vui vì anh hỏi tôi câu đó. thường thì người ta ngắm một bức tranh mà thậm chí không biết mình đang nhìn gì. Tôi vẽ vòng hào quang xanh chỉ đơn giản vì trên thực tế vòng hào quang màu xanh.
Jakub lại tỏ ra ngạc nhiên, Bertlef nói tiếp:
–         Những người yêu kính Chúa bằng một tình yêu đặc biệt mạnh mẽ sẽ cảm thấy được phần thưởng một niềm vui thiêng liêng lan toả trong khắp con người mình và từ đó chiếu toả ra bên ngoài. Ánh sáng của niềm vui thần thánh đó dịu dàng, mềm mại và có màu bầu trời.
–         Gượm đã – Jakub nói – Ông muốn nói vòng hào quang còn hơn là một biểu tượng?
–         Chắc chắn rồi – Bertlef nói – Nhưng anh đừng nghĩ nó thường trực toả rạng trên đầu các vị thánh và các vị thánh dẫn đường cho thế giới như những ngọn đèn đường. Dĩ nhiên là không rồi. Chỉ vào một số thời điểm niềm vui bên trong mạnh mẽ đến mức trán họ phòng ra một ánh sáng màu xanh. Trong những thế kỷ đầu tiên sau khi Jesus chết đi, vào thời kỳ các thánh có rất nhiều và có nhiều người thân thiết với họ, không ai mảy mai nghi ngờ về màu vòng hào quang của họ, và trên tất cả các bức tranh, tranh tường thời đó anh sẽ thấy vòng hào quang có màu xanh. Từ thế kỷ thứ năm trở đi các hoạ sĩ mới dần bắt đầu vẽ các màu khác nhau, chẳng hạn màu da cam và màu vàng. Sau này, trong hội hoạ gô tích, chỉ còn lại các vòng hào quang màu vàng thôi. Trông đẹp hơn và biểu hiện được rõ hơn sức mạnh trần thế và vinh quang của Nhà thờ. Nhưng  vòng hào quang đó không còn giống với vòng hào quang thật sự, cũng như Nhà thờ không còn giống với Thiên Chúa giáo nguyên thuỷ nữa.
–         Tôi không biết điều đó đấy – Jakub nói và Bertlef bước về phía tủ rượu. Ông trao đổi một lúc với hai người khách để biết nên lấy chai nào. Khi rót xong cognac vào ba chiếc ly, ông quay về phía bác sĩ:
–         Anh đừng quên, tôi xin anh, người cha bất hạnh này. Tôi muốn điều đó lắm đấy!
Skreta đảm bảo với Bertlef rằng tất cả sẽ diễn ra tốt đẹp, Jakub không biết họ đang nói về chuyện gì. Khi họ nói với anh (chúng ta hãy tán thưởng sự kín đáo thanh lịch của hai người đó, họ không nói ra một cái tên nào, ngay cả trước mặt Jakub), anh thể hiện lòng thương xót lớn lao với ông bố ít may mắn:
–         Ai trong số chúng ta chưa phải trải qua sự nhọc nhằn đó! Đó là một trong những thử thách lớn nhất của cuộc đời. Những ai khuất phục và trở thành bố dù không muốn suốt đời sẽ bị kết tội bởi thất bại của mình. Họ trở nên độc ác như tất cả những ai thua cuộc và muốn tất cả những người khác chịu chung số phận.
–         Bạn ơi! – Bertlef kêu lên – Anh đang nói trước mặt một người cha sung sướng! Nếu anh còn ở lại đây một hai ngày nữa, anh sẽ nhìn thấy con trai tôi, một thằng bé đẹp tuyệt, và anh sẽ rút lại những gì anh vừa nói.
–         Tôi sẽ không rút lại gì hết – Jakub nói – vì ông đã không trở thành bố dù không muốn!
–         Dĩ nhiên là không rồi. Tôi đã thành bố theo đúng mong muốn của mình và nhờ vào ân huệ của bác sĩ Skreta.
Bác sĩ đồng ý với vẻ thoả mãn và tuyên bố anh cũng có  một ý kiến về tình cha con giống với Jakub, mà tình trạng tuyệt vời của Suzy chính là bằng chứng:
–          Điều duy nhất – anh nói thêm – khiến tôi hơi bối rối  về chuyện sinh đẻ, là lựa chọn có phần không có lý lắm của các ông bố bà mẹ. Thật khó tin là các cá nhân xấu xí lại có thể quyết định sinh đẻ. Chắc họ tưởng gánh nặng của cái xấu sẽ nhẹ nhàng hơn nếu họ được chia sẻ với con cháu mình.
Bertlef coi quan điểm của bác sĩ Skreta là phân biệt chủng tộc về mặt mỹ học:
–         Đừng quên là, không chỉ Socrate là một người xấu xí, mà rất nhiều cô tình nhân lừng danh cũng không hề nổi bật vì vẻ bên ngoài đâu nhé. Sự phân biệt chủng tộc về mặt mỹ học gần như luôn là dấu hiệu của thiếu kinh nghiệm. Những ai chưa đi sâu vào thế giới khoái lạc tình yêu chỉ có thể phán xét phụ nữ thông qua những gì mà họ nhìn thấy. Nhưng những ai thực sự hiểu biết sẽ biết là con mắt chỉ có thể khơi gợi một mảnh xấu xí của những gì phụ nữ có thể dâng hiến cho chúng ta. Khi Chúa sáng tạo con người phải làm tình và sinh sôi, thưa  bác sĩ, Người đã nghĩ đến những người xấu ngang với những người đẹp. Tôi lại còn chắc chắn là tiêu chí thẩm mỹ không đến từ Chúa, mà từ Quỷ. Trên thiên đường, không ai phân biệt xấu đẹp nữa đâu.
Jakub tiếp lời và khẳng định những mục đích thẩm mỹ không đóng vai trò gì trong sự kinh tởm của anh đối với sự sinh đẻ.
–         Nhưng tôi có thể dẫn ra mười lý do khác để không nên làm bố.
–         Nói đi, tôi rất tò mò đấy – Bertlef nói.
–         Thứ nhất, tôi không thích tình mẹ con – Jakub nói và dừng lại, vẻ nghĩ ngợi – Thời đại hiện đại đã vén màn bí ẩn mọi huyền thoại. Từ lâu nay tuổi thơ đã không còn là tuổi ngây thơ. Freud đã phát hiện tính dục ở trẻ con và đã nói với chúng ta tất cả về Œdipe. Chỉ Jocaste là chưa hề bị động đến, không ai dám giật khăn bịt mặt của bà. Tình mẹ con là cấm kỵ cuối cùng và lớn nhất, cái tạo ra sự xấu xa nghiêm trọng nhất. không có sợi dây liên hệ nào chặt chẽ hơn mối liên kết gắn liền người mẹ với đứa con. Mối liên hệ đó mãi mãi làm biến dạng tâm hồn đứa trẻ và chuẩn bị cho người mẹ, khi đứa trẻ lớn lên, những đau khổ lớn nhất của tình yêu. Tôi nói tình mẹ con là một sự xấu xa và tôi từ chối đóng góp vào đó.
–         Tiếp theo – Bertlef nói.
–         Một lý do khác khiến tôi không muốn làm tăng số lượng các bà mẹ – Jakub nói, hơi có chút bối rối – là tôi quá yêu cơ thể phụ nữ và không thể nghĩ mà không thấy kinh tởm rằng bộ ngực của người tôi yêu sẽ trở thành một cái túi đựng sữa.
–         Tiếp theo – Bertlef nói.
–         Bác sĩ chắc là sẽ khẳng định với chúng ta là các bác sĩ và y tá điều tri .cho những phụ nữ nằm viện sau khi chửa đẻ nặng nề hơn là cho  các sản phụ và chứng kiến họ có chút khinh bỉ, mà quên mất là đến lượt mình, họ chắc chắn cũng sẽ phải chịu, ít nhất một lần trong đời, một sự chữa trị tương tự. Nhưng ở họ lại có một phản chiếu mạnh hơn mọi suy nghĩ, bởi vì sự thành kính dành cho sinh đẻ là một mệnh lệnh của tự nhiên. Chính vì lẽ đó sẽ là vô ích để tìm kiếm một lý luận duy lý dù nhỏ nhất trong việc tuyên truyền sinh đẻ. Phải chăng giọng nói của Jesus đang vang lên, trong luân lý sinh đẻ của Nhà thờ, hay các anh nghe thấy giọng của Marx trong tuyên truyền của nhà nước cộng sản về sinh đẻ? Được dẫn lối bởi ham muốn duy nhất là duy trì giống nòi, nhân loại cuối cùng sẽ ngạt thở trên mảnh đất tí hon của mình. Nhưng tuyên truyền cho sinh đẻ vẫn tiếp tục chạy và công chúng đổ nước mắt xúc động khi nhìn thấy hình ảnh một người mẹ cho con  bú hoặc khi một đứa bé con nhăn mặt. Tôi kinh tởm hình ảnh đó. Khi nghĩ là mình có thể, cùng với hàng triệu người nhiệt thành khác, cúi xuống một cái nôi với một nụ cười đần độn, tôi thấy lạnh hết sống lưng.
–         Tiếp theo – Bertlef nói.
–         Và rõ ràng tôi cũng phải tự hỏi tôi muốn gửi đứa con của mình vào thế giới nào. Trường học sẽ nhanh chóng tước nó khỏi tay tôi và nhồi sọ nó những điều vớ vẩn mà chính bản thân tôi cả đời đã phải đấu tranh để chống lại. Liệu tôi có phải nhìn con trai mình trở thành một kẻ đần độn phò chính thống ngay trước mắt tôi? Hoặc, liệu tôi có phải nhồi cho nó những ý tưởng của chính tôi và nhìn thấy nó đau đớn bởi vì nó bị lôi kéo vào những xung đột giống như tôi?
–         Tiếp theo – Bertlef nói.
–         Và rõ ràng tôi cũng phải nghĩ cho tôi. Tại đất nước này, trẻ con trả nợ cho sự bất tuân lệnh của bố mẹ chúng và bố mẹ chúng cho sự bất tuân của con cái. Bao nhiêu người trẻ tuổi bị cấm học hành vì  bố mẹ họ rơi vào cảnh thất sủng! Và bao nhiêu bố mẹ đã chấp nhận hoàn toàn sự hèn nhát với mục đích duy nhất là không làm hại đến con cái họ? Ở đây, ai muốn giữ được ít nhất một tự do nào đó cho mình thì không được phép có con – Jakub nói, và im lặng.
–         Anh còn phải dẫn ra năm lý do nữa cơ – Bertlef nói.
–         Lý do cuối cùng có sức mạnh đủ để ngang bằng với cả năm lý do – Jakub nói – Có một đứa con đồng nghĩa với việc thoả hiệp tuyệt đối với con người. Nếu tôi có một đứa con, thì cũng giống như tôi nói, tôi đã sinh ra, tôi đã nếm trải cuộc đời và tôi nhận ra rằng nó tốt đẹp đến mứ xứng đáng được lập lại.
–         Thế anh không thấy cuộc sống tốt đẹp à? – Bertlef hỏi.
Jakub muốn thật chính xác nên trả lời thận trọng:
–         Tôi chỉ biết một điều là tôi không bao giờ có thể nói chắc như đinh đóng cột rằng con người là sinh vật tuyệt diệu và rằng tôi muốn tái tạo nó.
–         Thì chính bởi vì cậu chỉ từng biết đến cuộc sống ở một khía cạnh duy nhất, khía cạnh tệ hại nhất – bác sĩ Skreta nói – Cậu chưa bao giờ biết sống hết cả. Cậu luôn nghĩ nghĩa vụ của mình là lao vào cuộc, như người ta nói. Nhưng với cậu đó có phải là thực tế không? Chính trị. Và chính trị, trong cuộc sống nó là cái chứa đựng ít bản chất nhất và ít giá trị nhất. Chính trị, đó là thứ bọt bẩn thỉu trôi nổi trên mặt sông, trong khi thực tế cuộc sống của dòng sông nằm ở độ sâu hơn nhiều. Việc nghiên cứu sự sinh nở của phụ nữ đã diễn ra từ hàng nghìn năm nay rồi. Đó là một lịch sử vững vàng và chắc chắn. Và nó hoàn toàn dửng dưng với chuyện chính phủ này hay chính phủ khác nắm quyền hành. Còn tớ, khi tớ đeo găng cao su vào khám các bộ phận nội tạng của phụ nữ, tớ gần với tâm điểm sự sống hơn cậu, cậu, người đã suýt mất mạng chỉ vì cố công làm điều tốt cho nhân loại.
Thay vì phản đối Jakub đồng ý với những trách móc của bạn, và bác sĩ Skreta, cảm thấy được khuyến khích, nói tiếp:
–         Archimède đứng trước các đường tròn, Michel-Ange đứng trước khối đá của mình, Pasteur đứng trước các ống nghiệm, chính họ, chỉ họ mới là những người đã biến đổi cuộc sống của con người và làm nên lịch sử thực sự, trong khi các chinh trị gia… – Skreta ngừng một lát và phẩy tay vẻ khinh bỉ.
–         Trong khi các chính trị gia làm sao? – Jakub hỏi, và anh tiếp – tớ sẽ nói cho cậu vậy. Nếu khoa học và nghệ thuật quả thật là trường đấu thật sự, cơ bản của lịch sử, thì ngược lại chính trị là phòng thí nghiệm khoa học kín cổng cao tường, trong đó người ta bắt con người phải làm những thí nghiệm kỳ quặc. Những con người làm vật thí nghiệm ở đó bị đẩy vào những cái bẫy sập rồi được lôi lên sân khấu, mê mẩn trước những tiếng vỗ tay và kinh hoàng trước giá treo cổ, bị tố giác và bị buộc phải tố cáo. Tớ từng làm phụ tá tại trung tâm thí nghiệm như thế, nhưng ở đó nhiều lần những cũng đã là nạn nhân cho giải phẫu rồi. Tớ biết mình không tạo ra bất kỳ giá trị nào (không nhiều hơn những người làm ở đó cùng với tớ), nhưng chắc chắn ở đó tớ cũng hiểu được rõ hơn bất kỳ ai con người là gì.
–         Tôi hiểu ý anh rồi – Bertlef nói – và tôi cũng biết về trung tâm thí nghiệm đó, dù tôi chưa từng bao giờ làm phụ tá phòng thí nghiệm tại đó cả, mà chỉ làm vật thí nghiệm thôi. Tôi từng ở Đức khi chiến tranh nổ ra. Chính người đàn bà mà tôi yêu hồi đó đã tố cáo tôi với Gestapo. Họ đã đến tìm cô ta và chìa ảnh tôi trên giường với một người khác cho cô ấy xem. Bức ảnh làm cô ta đau đớn, mà các anh cũng biết tình yêu bao giờ cũng mang những nét của sự thù hận. Tôi vào tù với cảm giác kỳ lạ là mình đã bị tình yêu dẫn vào đó. Các anh không thấy là thật đáng ngưỡng mộ việc nằm trong tay Gestapo và biết là chính ở đó, trên thực tế, là ưu tiên của một người đàn ông được yêu quá nhiều sao?
Jakub trả lời:
–         Có một điều khiến tôi cảm thấy kinh tởm nhất ở con người, đó là chứng kiến sự tàn bạo, sự đê tiện và ngu xuẩn của nó lại thường xuyên khoác trên mặt tấm mặt nạ của trữ tình. Cô ta đẩy ông đến cái chết và cô ta coi nó như là một chiến công tình cảm chủ nghĩa của một tình yêu bị xúc phạm. và ông đã lên giá treo cổ vì một người đàn bà ngu ngốc, với cảm giác đang đóng vai trong một vở bi kịch kiểu Shakespeare viết riêng cho ông.
–         Sau chiến tranh cô ta đến gặp tôi, khóc lóc – Bertlef kể tiếp, như thể không hề nghe thấy những lời công kích của Jakub – Tôi đã nói với cô ta, đừng lo lắng gì, Bertlef không bao giờ trả thù đâu.
–         Ông cũng biết – Jakub nói – tôi thường nghĩ đến ông vua Hérode, khi biết vị vua tương lai của người Do Thái vừa ra đời, ông ta đã ra lệnh giết toàn bộ trẻ sơ sinh vì sợ mất ngai vàng. Cá nhân mà nói, tôi tưởng tượng ra Hérode khác cơ, dù vẫn biết rằng đó chỉ là một trò chơi của trí tưởng tượng. Theo tôi, Hérode là một ông vua có học, thông thái và rất vị tha, từ lâu nay đã làm việc trong phòng thí nghiệm chính trị và đã học được cách biết về cuộc sống và con người. Ông ấy hiểu rằng con người nhẽ ra không bao giờ nên được tạo ra. Mặt khác, các nghi ngờ của ông ấy không đến nỗi lệch lạc và đáng trách như thế. Nếu tôi không lạm dụng, thì chính Đức Chúa cũng từng nghi ngờ con người và nuôi dưỡng ý định diệt trừ cái phần cấu thành công trình của mình đó.
–         Đúng – Bertlef công nhận – Điều đó được viết trong chương Sáu sáng Thế ký “Ta sẽ loại khỏi mặt đất con người mà ta đã tạo ra, bởi ta hối hận vì đã làm ra nó”.
–         Có thể chỉ là một giây phút yếu đuối của Đức Chúa khi cuối cùng ông ta cho phép Noé trốn trên thuyền để bắt đầu lại lịch sử loài người. Liệu chúng ta có thể chắc chắn được rằng Chúa chưa bao giờ hối hận vì quyết định đó không? Chỉ có điều, dù ông ta có hối hận hay không, thì cũng không thể làm gì được nữa. Chúa không thể tự biến mình thành dị hợm nếu cứ liên tục thay đổi quyết định. Nhưng nếu ông ta là người đã tiêm nhiễm vào dâdu Hérode ý nghĩ đó? Có thể loại trừ điều đó được không?
Bertlef nhún vai không nói gì.
–         Hérode là ông vua. Ông ấy chỉ chịu trách nhiệm về bản thân mình. Ông ấy không thể tự nhủ giống tôi: người khác làm gì thì làm, tôi từ chối không muốn sinh đẻ. Hérode là vua và biết là mình phải tự quyết định cho bản thân mình và cho người khác nữa, ông ấy quyết định nhân danh toàn thể nhân loại rằng con người không bao giờ được tự tái tạo nữa. Chính vì lý do như thế mà cuộc tàn sát những đứa trẻ mới sinh đã bắt đầu. Các mục đích của ông ta không đến nỗi xấu xa như chúng ta vẫn hay nghĩ. Hérode nuôi dưỡng chín chắn trong lòng cái ý nguyện độ lượng nhất là cứu thế giới thoát khỏi nanh vuốt con người.
–         Tôi rất thích cách diễn giải Hérode của anh – Bertlef nói – Tôi thích nó đến mức kể từ ngày hôm nay tôi sẽ bắt chước anh trong việc giải thích cuộc tàn sát những đứa bé vô tội. Nhưng đừng quên là chính vào lúc Herode quyết định nhân loại không được tồn tại nữa, ở Bethléhem một đứa bé trai đã thoát khỏi được lưỡi dao của ông ta. Và đứa trẻ đó đã lớn lên, đã nói với mọi người là chỉ cần có một điều là sẽ khiến cuộc sống trở nên đáng sống: yêu thương lẫn nhau. Hérode chắc hẳn có học vấn và có kinh nghiệm hơn rồi. Jesus chắc chắn là một thanh niên non nớt không biết nhiều điều của cuộc sống lắm. Toàn bộ sự rao giảng của ông ấy có thể được giải thích bằng tuổi trẻ và sự thiếu kinh nghiệm của mình. Vì ngây thơ, nếu anh muốn. Nhưng dù sao ông ấy cũng đã nắm được chân lý.
–         Chân lý? Ai đã chỉ ra chân lý đó? – Jakub hỏi dồn dập.
–         Không ai hết cả – Bertlef nói – Chưa ai từng chỉ ra và sẽ không có ai chỉ ra hết. Jesus yêu cha mình đến nỗi ông ấy không thể chấp nhận tác phẩm của người cha lại có thể xấu xa. Ông ấy đã đi đến kết luận đó nhờ tình yêu, chứ hoàn toàn không phải lý trí. Chính vì vậy cuộc tranh cãi giữa ông ấy và Hérode, chỉ trái tim của chúng ta mới đủ sức làm rõ bí mật. Có đáng để sống không bằng, có hay không? Tôi không có bằng chứng nào hết, nhưng với Jesus, tôi tin là có. – nói vậy xong, Bertlef mỉm cười quay sang Skreta – Chính vì thế tôi đã gửi vợ tôi đến điều trị ở đây dưới sự quản lý của bác sĩ Skreta, người theo tôi là một trong các vị thánh tông đồ của Jesus, bởi vì anh ấy biết tạo ra những điều kỳ diệu và mang lại sự sống cho những cái bụng ngủ quên của phụ nữ. Tôi xin nâng côc chúc sức khoẻ bác sĩ!

 
10.
Jakub luôn dành cho Olga một thái độ nghiêm khắc kiểu cha con, và vì lẽ đó anh thích tự gọi mình là “lão  già”. Tuy thế cô cũng biết anh có rất nhiều đàn bà, với họ anh cư xử rất khác, đó là điều khiến cô ghen với họ. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên, cô nghĩ dù sao ở Jakub cũng đã có cái gì đó già nua rồi. Trong cách cư xử của anh với cô, một người trẻ tuổi, cô cảm thấy cái mùi ẩm ướt lan toả từ thế hệ trước.
Những ông già tự nhận ra nhau ở thói quen tâng bốc các đau đớn trong quá khứ và từ đó xây dựng một viện bảo tàng, nơi họ mời khách đến xem (những bảo tàng đó mới có ít khách làm sao!) Olga hiểu trong bảo tàng của Jakub cô là hiện vật sống động chính yếu, và thái độ hiền hậu độ lượng của Jakub với cô chỉ có mục đích là khiến khách tham quan phải nhỏ lệ.
Hôm nay, cô cũng đã phát hiện vật vô tri quý giá nhất của bảo tàng đó, viên thuốc màu xanh nhạt. Vừa nãy, khi anh mở tờ giấy gói viên thuốc, cô đã ngạc nhiên và không cảm thấy chút xúc động nào. Hiểu là Jakub luôn nghĩ đến việc tự tử vào những giai đoạn khó khăn, cô thấy cung cách trang trọng khi anh cho cô biết điều đó thật là lố bịch. Cô thấy lố bịch vì anh mở tờ giấy lụa với thái độ chăm chú đến thế, như thể nó chứa một viên đá quý vậy. Và cô không hiểu tại sao tất cả những người trưởng thành lại phải làm chủ được cái chết của mình trong mọi trường hợp. Nếu khi ra đến nước ngoài bị ung thư thì không biết anh có cần đến thuốc độc không? Nhưng không, với Jakub, viên thuốc không chỉ là một thứ thuốc độc đơn thuần, nó còn là một thứ đồ phụ  trợ mang tính biểu tượng mà giờ đây anh muốn dâng lên cho vị giáo sĩ trong một buổi lễ linh thiêng. Có gì đó đáng cười.
Cô ra khỏi phòng tắm và đi về phía khách sạn Richmond. Dù tất cả những ý nghĩ phản tỉnh đó, cô vẫn thích gặp Jakub. Cô có mon muốn lớn lao là phàm tục hóa bảo tàng của anh đi, đi vào đó với tư cách một người đàn bà chứ không phải một vật  trưng bày.
Do đó cô hơi thất vọng khi thấy trên cửa phòng anh có một mẩu giấy nhắn cô đến gặp anh ở phòng bên cạnh, có cả Bertlef và Skreta. Ý nghĩ phải gặp anh cùng với những người khác khiến cô đánh mất sự dũng cảm, nhất là khi cô không biết Bertlef, và bác sĩ Skreta vẫn thường rất hững hờ với cô.
Bertlef khiến cô nhanh chóng quên đi sự rụt rè. Ông cúi gập người tự giới thiệu và trách bác sĩ Skreta đã không chịu cho ông làm quen với một người phụ nữ thú vị nhường ấy.
Skreta trả lời là Jakub chịu trách nhiệm coi sóc cô gái và anh đã cố ý không giới thiệu cô với Bertlef vì biết rằng sẽ không người phụ nữ nào kháng cự nổi trước ông.
Bertlef đón nhận sự xin lỗi đó với một vẻ hài lòng tươi cười. Rồi ông nhấc điện thoại lên và gọi khách sạn để đặt bữa tối.
–         Thật không tin nổi – bác sĩ Skreta nói – làm thế nào mà ông bạn chúng ta có thể sống vương giả thế tại cái chốn khỉ ho cò gáy không có đến nổi một quán ăn ra hồn thế này.
Bertlef lục trong một cái hộp đựng xì gà đặt cạnh điện thoại, đựng đầy những đồng xu nửa dollar:
–         Hà tiện là một tội lỗi… – ông mỉm cười nói.
Jakub nhận xét anh chưa từng gặp ai tin Chúa nồng nhiệt đến thế, mà vẫn biết cách hưởng thụ cuộc đời.
–         Chắc chắn là bởi vì anh chưa bao giờ gặp được một tín đồ Thiên Chúa giáo đúng nghĩa. Cái từ Phúc Âm, chắc các bạn cũng biết, có nghĩa là thông điệp của niềm vui. Hưởng thụ cuộc sống, đó là lời dạy quan trọng nhất của Jesus.
Olga nhận thấy mình có một cơ hội để xen vào cuộc trò chuyện:
–         Bằng vào những gì mà các giáo sư từng nói với tôi, các tín đồ Thiên Chúa chỉ nhìn thấy trong cuộc sống nơi trần thế một thung lũng nước mắt và vui sướng với ý nghĩ cuộc sống thực sự chỉ bắt đầu với họ sau khi chết đi.
–         Thưa quý cô thân mến – Bertlef nói – Đừng tin vào các giáo sư.
–         Và tất cả các vị thánh – Olga nói – chỉ làm mỗi một việc là chối từ cuộc sống. Nhẽ ra phải làm tình, họ lại tự hành xác, nhẽ ra phải tranh luận như ông và tôi, thì họ lại lui về các nhà tu kín, nhẽ ra phải đặt bữa tối qua điện thoại, thì họ lại nhai rễ cây.
–         Cô không hiểu gì về các thánh rồi, thưa quý cô. Những người đó thiết tha với cuộc đời vô cùng tận. Chỉ có điều, họ nhập thế theo cách khác. Theo cô, khoái lạc lớn nhất của con người là gì? Cô có thể thử đoán xem, nhưng thế nào cô cũng nhầm, bởi vì cô không đủ thành thực. Đó không phải là một lời trách cứ, bởi sự thành thực đòi hỏi phải hiểu biết chính mình và sự hiểu biết lại là thành quả của tuổi tác. Làm thế nào một cô gái trẻ toả rạng hào quang của tuổi trẻ như cô lại có thể thành thực? Cô ta không thể thành thực bởi vì cô ta không biết cả đến trong mình có gì. Nhưng nếu cô ta biết được, cô sẽ phải chấp nhận với tôi rằng khoái lạc lớn nhất là được ngưỡng mộ. Cô không nghĩ thế ư?
Olga trả lời là cô biết nhiều khoái lạc.
–         Không, – Bertlef nói – hãy lấy ví dụ vận động viên điền kinh của các bạn, người mà trẻ con đứa nào cũng  biết vì đã liên tục mang về ba chiến thắng trên đường chạy Olympic. Cô có nghĩ anh ta chối từ cuộc sống không? Thế mà, nhẽ ra phải trò chuyện, phải làm tình và chơi bời, thì anh ta bắt buộc phải trải qua rất nhiều thời gian chạy vòng quanh sân vận động. Sự tập luyện của anh ta rất giống với những gì mà các vị thánh nổi tiếng nhất của chúng ta đã làm. Thánh Macaire, thành Alexandrie, khi ở ngoài sa mạc, đã đều đặn rót đầy một rổ đựng cát, ông đặt nó lên lưng và ngày qua ngày bước đi cho đến khi kiệt sức hoàn toàn. Nhưng chắc chắn là có tồn tại, với vận động viên điền kinh của các bạn cũng như với thánh Macaire thành Alexandrie, một phần thưởng lớn lao đền đáp đầy đủ cho tất cả nỗ lực của họ. Cô có biết nghe thấy những tiếng vỗ tay của một sân vận động Olympic vĩ đại có ý nghĩa thế nào không? Không có niềm vui nào lớn hơn đâu! Thánh Macaire thành Alexandrie biết tại sao mình phải mang rổ cát trên lưng. Vinh quang của các nhà marathon trên sa mạc đã sớm lan rộng trogn toàn giới Thiên chúa. Và thánh Macaire cũng giống như vận động viên của các bạn đã chiến thắng ở cự ly năm nghìn mét, rồi mười nghìn mét và cuối cùng như thế vẫn chưa đủ, anh ta chiến thắng nốt ở giải marathon. Ham muốn được ngưỡng mộ thật vô cùng. Thánh Macaire đã đến một nhà tu ở Thébese không báo trước và xin được chấp nhận làm thành viên ở đó. Nhưng sau đó khi đại lễ mùa chay tới, sự vinh quang của ông cũng tới theo. Toàn bộ các tu sĩ trai giới ngồi, nhưng ông đã đứng suốt bốn mươi ngày ăn chay! Đó là một chiên thắng mà cô không tưởng tượng nổi đâu! Hoặc, cô có nhớ đến thánh Siméon ẩn sĩ trên cột không? Ông đã dựng trên sa mạc một cái cột, trên đỉnh chỉ có một cái sân nhỏ. Trên đó không thể ngồi được, bắt buộc phải đứng. Và ông đã đứng đó suốt đời và toàn bộ giới Thiên Chúa ngưỡng mộ nhiệt thành kỷ lục khó tin của một con người dường như vượt quá mọi ngưỡng cửa của nhân loại này. Thánh Siméon, đó là Gagarine của thế kỷ thứ năm. Cô có thể tưởng tượng được hạnh phúc của nữ thánh Genevieve của Paris ngày mà một đoàn lái buôn Golois báo với bà là thánh Siméon từng nghe nói đến bà và chúc phúc cho bà từ trên cây cột của mình? Thế cô nghĩ tại sao ông tìm cách lập kỷ lục? có thể bởi vì ông không hề lo nghĩ đến cuộc sống lẫn con người ư? Đừng ngây thơ thế! Các Cha của Nhà thờ biết rất rõ là thánh Siméon rất trọng danh tiếng và đã thử thách ông. Nhân danh quyền lực tinh thần, họ đã ra lệnh cho ông xuống khỏi cột và từ bỏ cuộc đua. Thật là một đòn đau với thánh Siméon! Nhưng, hoặc vì minh triết hoặc vì khôn ngoan, ông đã nghe lời. Các Cha của Nhà thờ không hề phản đối các kỷ lục, nhưng họ muốn chắc chắn sự háo danh của thánh Siméon không khiến ông lơi là kỷ luật. Khi họ thấy ông buồn bã đi xuống ngay lập tức họ đã ra lệnh leo lên trở lại, khiến cuối cùng thánh Siméon ẩn sĩ trên cột đã có thể chết trên cột, được bao quanh bởi tình yêu và lòng ngưỡng mộ của loài người.
Olga chăm chú lắng nghe, cô bật cười khi nghe những lời cuối cùng của Bertlef.
–         Cái ham muốn tuyệt vời được ngưỡng mộ đó không có gì là đáng cười đâu, tôi thấy nó gây xúc động thì đúng hơn – Bertlef nói – Người nào muốn được ngưỡng mộ sẽ thiết tha với những người gần gũi với mình, quan tâm đến họ, không thể sống được nếu thiếu họ. Thánh Siméon một mình ở sa mạc, trên một mét vuông đỉnh cột. Thế nhưng ông lại ở với tất cả mọi người! Ông tưởng tượng hàng triệu cặp mắt đang dõi lên mình. Ông hiện diện trong hàng triệu ý nghĩ và ông sung sướng  vì điều đó. Đó chính là một tấm gương lớn về tình yêu con người và tình yêu cuộc sống. Cô đừng nhầm, thưa quý cô yêu quý, về điểm thánhSiméon vẫn tiếp tục sống trong mỗi chúng ta. Và đến ngày nay ông vẫn là điểm cực tốt đẹp nhất của giống loài chúng ta.
Có tiếng gõ cửa và một người phục vụ bước vào, đẩy trước mặt một chiếc xe chất đầy đồ ăn. Anh ta trải khăn lên bàn và đặt dao đĩa. Bertlef tìm trong hộp đựng xì gà và nhét vào  túi người phục vụ một nắm tiền xu. Sau đó, họ bắt đầu ăn, người phục vụ đứng ở sau để rót rượu vangvà phục vụ món.
Bertlef say sưa bình luận mùi vị mỗi món ăn và Skreta lưu ý là không biết từ bao lâu anh chưa được ăn một bữa ngon như thế này.
–         Có thể lần cuối cùng mẹ tôi nấu cho tôi ăn, nhưng khi đó tôi còn nhỏ lắm. Tôi mồ côi từ khi năm tuổi. Thế giới bao quanh tôi là một thế giới xa lạ và với tôi cái bếp cũng xa lạ. Tình yêu với đồ ăn nảy sinh từ tình yêu với người gần gũi.
–         Rất chính xác – Bertlef nói, gắp một miếng thịt bò cho vào miệng.
–         Đứa trẻ bị bỏ rơi ăn không thấy ngon. Tin tôi đi, đến tận giờ tôi vẫn rất đau khổ vì không có cha mẹ. Tin tôi đi, đến tận giờ, già như thế này rồi, tôi vẫn sẵn sàng cho đi tất cả để có được một người bố.
–         Anh quá coi trọng các quan hệ gia đình rồi – Bertlef nói – Tất cả mọi người đều gần gũi với anh. Đừng quên Jesus từng nói gì khi người ta muốn gọi ông về bên cạnh người mẹ và anh em của ông. Ông đã chỉ các tông đồ và nói, mẹ tôi và anh em tôi ở đây cả thôi.
–         Thế nhưng Giáo hội Thánh – Skreta tìm cách giải thích – không hề có ý định nào dù là nhỏ nhất phá huỷ gia đình hay thay thế nó bằng một cộng đồng đám đông tự do.
–         Có một khác biệt giữa Giáo hội Thánh và Jesus. Và thánh Paul, nếu các bạn cho phép tôi được nói, trong mắt tôi là người tiếp nối nhưng cũng là người phản lại Jesus. Trước hết, có sự chuyển hoá đột ngột từ Saul sang Paul! Như thể chúng ta chưa biết đầy đủ về những kẻ cuồng tín say mê đánh đổi một lòng tin lấy một lòng tin khác chỉ trong vòng một đêm? Đừng có nói với tôi là tình yêu đã hướng lối những kẻ cuồng tín! Chính những kẻ đao đức học vẫn thầm thì mười điều răn của mình. Nhưng Jesus không phải là một nhà luân lý học. Hãy nhớ điều ông từng nói, khi người ta trách ông không kỷ niệm Sabbat. Sabbat là cho con người và con người không phải cho Sabbat. Jesus yêu phụ nữ! Và các bạn có thể tưởng tượng ra thánh Paul dưới hình dạng một tình nhân? Thánh Paul hẳn sẽ kết tội bởi vì tôi yêu phụ nữ. Nhưng Jesus thì không đâu. Tôi không thấy gì xấu trong việc yêu phụ nữ, yêu nhiều phụ nữ, và được phụ nữ yêu, được nhiều phụ nữ yêu. – Bertlef mỉm cười, nụ cười của ông bỉêu lộ một sự tự hài lòng – các bạn ạ, tôi không hề có cuộc sống dễ dàng và hơn một lần tôi đã phải tận mắt chứng kiến cái chết. Nhưng có một điều mà Chúa đã tỏ ra độ lượng với tôi. Tôi có rất nhiều phụ nữ và họ đã yêu tôi.
Mọi người dùng xong  bữa và người phục vụ bắt đầu dọn bàn thì có tiếng gõ cửa. Những tiếng gõ yếu ớt và rụt rè như thể cầu xin sự khuyến khích.
–         Vào đi! – Bertlef nói.
Cánh cửa mở ra, một đứa be bước vào. Đó là một đứa bé gái chừng năm tuổi, nó mặc một chiếc váy trắng buộc dây, đeo một sợi ru băng lớn sau lưng với một cái nơ lớn, hai đầu chĩa ra như hai cái cánh. Trên tay nó cầm một bông hoa, một bông thược dược to. Nhìn thấy trong phòng có nhiều người đang ngạc nhiên nhìn nó, nó dừng lại, không dám tiến lên.
Nhưng Bertlef đã đứng dậy, khuôn mặt ông bừng sáng và ông nói:
–         Đừng sợ, thiên thần tí hon, lại đây.
Và đứa bé, nhìn thấy nụ cười của Bertlef và như thể thấy ở đó chỗ dựa, phá lên cười rồi chạy về phía ông, Bertlef cầm lấy bông hoa và hôn lên trán đứa bé.
Tất cả mọi người, cả người phục vụ, ngạc nhiên nhìn cảnh đó. Đứa bé, với chiếc nơ trắng dính trên lưng áo, thực sự giống một thiên thần nhỏ. Và Bertlef đứng đó, nghiêng người về phía trước với bông thược dược trên tay, khiến người ta nghĩ đến những pho tượng ba rốc về các vị thánh đặt trên các quảng trường của những thành phố nhỏ.
–         Các bạn thân mến – ông quay về phía những người khách nói – tôi đã có những giây phút rất dễ chịu với các bạn và tôi hy vọng các bạn cũng cảm thấy như thế. Tôi sẵn sàng ở đây với các bạn đến tận một giờ đêm, nhưng như các bạn cũng thấy đấy, tôi không thể. Thiên thần xinh đẹp này đã đến gọi tôi đến chỗ một người đang đợi tôi. Tôi đã nói với các bạn, cuộc đời đã đánh đập tôi bằng đủ mọi cách, nhưng phụ nữ thì yêu tôi.
Bertlef cầm trên tay bông hoa thược dược, ép nó vào ngực và tay kia đặt lên vai đứa bé gái. Ông vẫy chào những người khách. Olga thấy ông diễn kịch một cách lố bịch và vui mừng thấy ông đi để cuối cùng được ở lại một mình với Jakub.
Bertlef cầm tay cô bé và quay người tiến về phía cửa ra vào. Trước khi bước ra, ông nghiêng người xuống hộp đựng xì gà và nhét vào túi mình một nắm tiền xu.
 
11.
Người phục vụ xếp đĩa bẩn và chai không lên xe đẩy và khi anh ta ra khỏi phòng, Olga hỏi:
–         Đứa bé đó là ai?
–         Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cả – Skreta nói.
–         Nó tựa như một thiên thần nhỏ – Jakub nói.
–         Một thiên thần mang đến tình nhân cho ông ta? – Olga hỏi.
–         Phải – Jakub nói – Một thiên thần ma cô và dắt mối. Chú thích gọi thiên thần hộ mệnh của ông ấy như thế.
–         Tôi không biết đó có phải là một thiên thân hay không – Skreta nói – nhưng điều đáng tò mò là tôi chưa từng bao giờ nhìn thấy đứa bé đó, dù tôi biết hầu hết mọi người ở đây.
–         Trong trường hợp đó, tôi thấy chỉ có một cách giải thích – Jakub nói – cô bé đó không thuộc về thế giới này.
–         Dù đó là một thiên thần hay là con gái một nữ hầu phòng, tôi có thể cam đoan một điều – Olga nói – rằng ông ta đang đi gặp một người đàn bà! Cái cung cách đó rởm đời đến kinh tởm và ông ta chỉ làm thế để tự tán dương mình thôi.
–         Chú thì lại thấy hay – Jakub nói.
–         Có thể – Olga nói – nhưng cháu vẫn cứ nghĩ dó là người rởm đời nhất từng tồn tại. Cháu cá với chú là trước khi chúng ta tới một tiếng thì ông ta đã đưa một nắm đồng nửa dollar cho đứa bé gái đó và bảo nó đến tìm ông ta với một bông hoa thược dược trên tay, vào giờ định trước. Các tín đồ bao giờ cũng có xu hướng dàn cảnh các điều kỳ diệu.
–         Tôi rất muốn là cô có lý – Skreta nói – quả thật, ông Bertlef ốm rất nặng và một đêm tình ái sè là khá nguy hiểm đấy.
–         Anh cũng thấy là tôi có lý. Tất cả những ám chỉ đến đàn bà đó chỉ là thùng rỗng kêu to thôi.
–         Thưa cô yêu quý – bác sĩ Skreta nói – tôi là bác sĩ của ông ấy, bạn của ông ấy nhưng tôi cũng không chắc chắn được về điều đó. Tôi tự hỏi mình một điều.
–         Ông ấy thực sự ốm nặng lắm à? – Jakub hỏi.
–         Thế cậu nghĩ tại sao ông ấy ở đây từ gần một năm nay và người vợ trẻ của ông ấy, người mà ông ấy rất yêu quý, chỉ thỉnh thoảng mới đến thăm ông ấy?
–         Bỗng nhiên không có ông ấy ở đây không khí trầm hẳn xuống – Jakub nói.
Điều đó là đúng, cả ba người đột nhiên cảm thấy bị bỏ rơi và không muốn ở lại lâu hơn trong căn phòng xa lạ này nữa.
Skreta đứng dậy khỏi ghế:
–         Chúng ta đưa cô Olga về phòng rồi đi uống cái gì đi. Chúng ta còn nhiều chuyện để nói lắm.
Olga phản đối:
–         Tôi chưa muốn đi ngủ!
–         Nhưng đến giờ rồi. Tôi ra lệnh cho cô, với tư cách là bác sĩ – Skreta nghiêm khắc nói.
Họ ra khỏi khách sạn Richmond và vào khu vườn công cộng. Trên đường đi, Olga tìm được dịp để nói thầm với Jakub:
–         Tối nay cháu muốn cùng chú…
Nhưng Jakub chỉ nhún vai, vì Skreta đã bày tỏ quyết định sắt đá. Họ đưa cô gái về khu Karl Marx và, trước mặt bạn, Jakub thậm chí còn không vuốt tóc cô như anh vẫn có thói quen. Sự căm ghét của bác sĩ  với hai bầu vú giống hai quả mận khiến anh nản lòng. Anh đọc thấy sư .thất vọng trên khuôn mặt Olga và thấy đau lòng vì làm mếch lòng cô.
–         Thế cậu nghĩ thế nào? – Skreta hỏi khi hai người còn lại một mình trên lối đi công viên – Cậu đã nghe tớ nói rồi đấy, lúc tớ nói tớ cần một người cha ấy. Sỏi đá chắc cũng phải mủi lòng thương xót tớ. Thế mà ông ấy lại đi nói về thánh Paul! Liệu có phải ông ấy thực sự không có khả năng hiểu? Đã hai năm nay tớ nói với ông ấy tớ mồ côi, hai năm nay tớ tán tụng với ông ấy các lợi thế của chiếc hộ chiếu Mỹ. Tớ đã ám chỉ hàng nghìn lần đến các trường hợp nhận con nuôi khác nhau. Theo tính toán của tớ, tất cả những ám chỉ đón nhẽ ra từ lâu đã phải khiến ông ấy nghĩ đến chuyện nhận tớ làm con nuôi.
–         Ông ấy quá say mê mình – Jakub nói.
–         Đúng thế đấy – Skreta đồng tình.
–         Nếu ông ấy ốm rất nặng, thì điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Bệnh ông ấy có thật sự nặng như cậu nói không?
–         Còn nặng hơn ấy chứ – Skreta nói – Cách đây sáu tháng ông ấy đã bị một cơn nhồi máu mới, rất trầm trọng, và từ đó ông ấy  bị cấm đi xa và phải sống ở đây như một tù nhân. Cuộc sống của ông ấy chỉ còn treo trên sợi tóc thôi. Và ông ấy biết.
–         Cậu thấy đấy – Jakub nói – Trong trường hợp đó nhẽ ra từ lâu cậu đã phải hiểu là phương pháp ám chỉ không hay, bởi vì ám chỉ nào cũng sẽ chỉ gợi cho ông ấy một ý nghĩ nào đó về bản thân mình. Cậu phải nói thẳng đề nghị của mình ra đi. Ông ấy sẽ đáp ứng ngay, chắc chắn, bởi vì ông ấy thích mang lại niềm  vui. Điều đó tương hợp với ý nghĩ ông ta  có về chính bản thân mình. Ông ấy muốn đem lại niềm vui cho những người giống mình.
–         Cậu thật là thiên tài! – Skreta kêu lên – Đơn giản như hai với hai là bốn, mà lại đúng phóc! Tớ ngu thật đấy, tớ đã mất tiêu hai năm cuộc đời chỉ vì không biết cách giải mã ông ấy! Tớ đã mất hai năm vòng vo vô ích! Lỗi của cậu đấy, bởi vì nhẽ ra cậu phải khuyên tớ từ lâu rồi mới phải chứ.
–         Này cậu, thế thì phải hỏi tớ từ lâu rồi chứ.
–         Hai năm rồi cậu có đến thăm tớ đâu?
Hai người bạn bước đi trong công viên đang tối dần và hít thở bầu không khí tươi mát của mùa thu đang bắt đầu.
–         Giờ đây tớ đã cho ông ta được làm bố, có lẽ tớ cũng đã xứng đáng được ông ta nhận làm con! – Skreta nói.
Jakub đồng ý.
–         Bất hạnh là ở chỗ – Skreta tiếp tục sau một lúc im lặng khá lâu – quanh tớ chỉ toàn bọn ngốc. Trong cái thành phố này liệu tớ có thể hỏi lời khuyên của ai không? Chỉ vì sinh ra đã có trí thông minh, ngay lập tức người ta bị loại trừ tuyệt đối. Tớ không nghĩ đến gì khác, bởi vì đó là chuyên mốn của tớ, nhân loại tạo ra một số lượng kinh khủng bọn ngu ngốc. Một cá nhân càng ngu ngốc càng muốn sinh đẻ nhiều. Những con người hoàn hảo chỉ sinh nhiều lắm là một đứa con, và những người giỏi nhất, ví dụ như cậu, thì quyết định không đẻ đái gì cả. Thật là một thảm hoạ. Còn tớ, lúc nào tớ cũng mơ đến một vũ trụ nơi con người không được sinh ra giữa những kẻ xa lạ mà giữa anh em.
Jakub lắng nghe Skreta nói và không thấy có gì thú vị lắm. Skreta tiếp tục:
–         Đừng nghĩ đó chỉ là lời nói! Tớ không phải là chính trị gia mà là bác sĩ, và từ anh em với tớ có một ý nghĩa chính xác. Chỉ là anh em những người có chung mẹ hoặc bố. Tất cả những người con trai của Salomon, dù họ sinh ra từ một trăm bà mẹ khác nhau, đều là anh em. Thế có tuyệt không! Cậu nghĩ gì về điều đó?
Jakub hít thở không khí trong lành và không tìm ra điều gì để nói.
–         Chắc chắn – Skreta tiếp – thật là khó khăn để bắt người ta hoà nhập về mặt tình dục vì tương lai tốt đẹp của thế hệ sau. Nhưng vấn đề không nằm ở đó. Ở thế kỷ của chúng ta, dù sao cũng phải có những phương pháp khác để giải quyết vấn đề sinh đẻ hợp lý. Không thể mãi mãi nhầm lẫn giữa tình yêu và sinh đẻ được.
Jakub đồng ý với ý kiến này.
–         Chỉ có điều, cái duy nhất mà cậu quan tâm là gạt sinh đẻ khỏi tình yêu – Skreta nói – Với tớ, đúng hơn phải gạt tình yêu khỏi sinh đẻ. Tớ muốn cậu biết về kế hoạch của tớ. Trong ống nghiệm có tinh trùng của tớ đấy.
Lần này Jakub thực sự chú ý.
–         Cậu nghĩ gì về việc đó?
–         Tớ nghĩ đó là một ý kiến tuyệt vời! – Jakub nói.
–         Phi thường ấy chứ! – Skreta nói – Bằng cách đó tớ đã chữa khỏi bệnh vô sinh cho không ít phụ nữ. Đừng quên là na quá nhiều phụ nừ không đẻ con được, thì chỉ vì tại chồng họ bị vô sinh. Tớ có rất nhiều khách hàng trên khắp đật nước và, từ bốn năm nay, tớ chữa bệnh phụ khoa với ngân sách của thành phố. Lấy xi lanh hút từ ống nghiệm ra rồi tiêm vào người phụ nữ đang điều trị thứ chất lỏng sinh sôi chỉ là một việc nhỏ.
–         Thế cậu có bai nhiêu đứa con rồi?
–         Tớ làm thế từ nhiều năm nay, nhưng tớ chỉ tính toán được đại khái thôi. Không phải bao giờ tớ cũng có thể chắc chắn về khả năng làm bố của mình, vì các bệnh nhân của tớ, có thể nói vậy, đã vì tớ mà không chung thuỷ với chồng mình. Và vì thế, họ trở về nhà mình, và chẳng bao giờ biết liệu mình có thành công hay không. Mọi việc rõ ràng hơn với các bệnh nhân ở đây.
Skreta im lặng  và Jakub thả mình vào một mơ mộng êm đềm. Kế hoạch của Skreta làm anh vui vẻ và xúc động, vì anh nhận ra lại người bạn mơ mộng hết thuốc chữa của mình:
–         Chắc là phải cực kỳ hay việc có nhiều con đến thế với nhiều phụ nữ đến thế… – anh nói.
–         Và tất cả đều là anh em.
Họ bước đi, hít thở không khí thơm hương và im lặng. rồi Skreta lại nói:
–         Cậu cũng biết đấy, tớ thường xuyên tự nhủ là ngay cả có rất nhiều điều làm chúng ta không hài lòng, chúng ta vẫn có trách nhiệm với đất nước này. Tớ rất cú vì không được tự do ra nước ngoài, nhưng tớ sẽ không bao giờ có thể thoá mạ đất nước mình. Trước hết tớ phải tự thoá mạ mình cái đã. Và trong số chúng ta có ai không từng làm gì đó để đất nước tốt đẹp hơn? Ai trong số chúng ta không từng làm gì đó để người ta có thể sống được ở đây? Để nó trở thành một đất nước nơi người ta cảm thấy ở nhà mình? Chỉ có điều, cảm thấy ở nhà mình… – Skreta hạ giọng và thầm thì nói – cảm thấy ở nhà mình là cảm thấy ở giữa những người thân. Và vì cậu nói sắp sửa ra đi, tớ nghĩ mình phải thuyết phục cậu tham gia kế hoạch của tớ. Tớ có một ống nghiệm cho cậu. Cậu sẽ ra nước ngoài và ở đây con của cậu sẽ được sinh ra. Và từ giờ đến mười, hai mươi năm nữa cậu sẽ thấy mọi chuyện đẹp đẽ đến thế nào!
Trên bầu trời có một mặt trăng hình tròn (nó sẽ nằm đó cho đến cuối câu chuyện của chúng ta, vì lẽ đó chúng tôi thấy nên gọi nó là chuyện kể tuần trăng) và bác sĩ Skreta đi cùng Jakub đến khách sạn Richmond:
–         Ngày mai cậu chưa được đi đâu đấy nhé – anh nói.
–         Phải thế thôi. Người ta đang đợi tớ – Jakub nói, nhưng anh biết mình sẽ bị thuyết phục.
–         Chẳng sao hết cả – Skreta nói – tớ vui vì cậu thích kế hoạch của tớ. Ngày mai, chúng ta sẽ bàn luận sâu hơn.
vn.thuquan.net

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s