MỘT BÔNG HỒNG CHO CÔ EMILY

truyện ngắn của William Faulkner
chuyển ngữ : Phạm Việt Hùng

Khi cô Emily Grierson chết cả thành phố dự đám tang, qua sự ngưỡng mộ và kính phục , những người đàn ông họ nghiêng mình trước mộ bia của cô , còn những người đàn bà họ không còn tò mò nhìn vào nhà cô nữa, nơi mà có những người làm vườn, nấu ăn, mà những người trong thành phố đã thấy họ trong nhà cô mười mấy năm, sau khi cô mất họ sẽ ra sao?

Đó là một ngôi nhà to lớn đã có lần nó được sơn màu trắng, trên nóc được trang trí với hình vòng cung, xoắn ốc,cùng cái ban công màu cẩm thạch, tạo thêm nét uyển chuyển của kiểu nhà thế kỷ thứ nười chín, đã có lần được cho là đẹp nhất phố. bên cạnh tòa nhà là cái garage, và cái máy dệt bông vải choáng hẳn cả mặt đường làm mất đi những tên tuổi của những người trong thành phố. Còn lại chỉ còn tòa nhà của cô Emily, trông mục nát như khiêu khích, quyến rũ trên đỉnh đầu của toa xe chở bông vải và cái bơm xăng, trông mất thẩm mỹ, giờ đây cô Emily vừa mất, cùng gia nhập với một số người có tên tuổi của thành phố , dưới cây tùng bách trong nghĩa địa, nằm xen kẽ với những người lính Nam quân và Bắc quân đã chết trong trận Jefferson.
Lúc còn sống cô Emily là một người truyền thống, được mọi người tôn kính , cô có tính cẩn thận. Giòng họ cô sống ở thành phố này lâu đời. Năm 1894 Đại tá Satoris thị trưởng thành phố ra sắc lệnh tất cả phụ nữ da đen mặc thêm váy ngắn khi ra đường. Khi cha cô mất, ông này đã xóa món nợ vĩnh viễn cho giòng họ cô, vì trong công việc làm ăn của cha cô bị thất bại, ông đã vay tiền của thành phố. Mà điều này chỉ có đại tá Sartoris và giòng họ cô biết mà thôi.
Khi thế hệ kế tiếp, với những tư tưởng tiến bộ, họ là những thị trưởng hay hội đồng thành phố,thì món nợ của cha cô được khơi dậy, sự sắp xếp của họ làm cô không hài lòng lắm, vào đầu năm sở thuế, họ gửi đến cô một lá thư thông báo, vào tháng hai, họ không thấy có lá thư nào hồi đáp của cô, họ lại gửi đến cô một lá thư khác rất là trang trọng, trong lá thư họ yêu cầu cô gọi điện thoại đến văn phòng ông quận trưởng thành phố, tuần lễ sau, chính ông thị trưởng thành phố viết thư đến cô đề nghị cô có thể gọi ông bất cứ lúc nào để ông sẽ gửi người tài xế đến cô để cô túy nghi xử dụng. Lá thư kiểu cũ, xa xưa, hình dáng mỏnh manh, và nét chữ đẹp đẽ của ông đã thuyết phục được cô khiến cô hồi đáp là sẽ gặp họ. đó là ngày họp mặt đặc biệt của thành phố Aldermen. Khi cô đến căn nhà, nơi mà giòng họ cô đã từng trú ngụ bao đời, thì đã thấy người đại biểu đứng chờ cô, ông gõ cửa, nơi có tấm bản “Cấm vào” được treo lên từ lúc mà cô đang vẽ dở hai bức tranh cách đây mười mấy năm về trước.
Trong căn nhà, một lão gìa da đen mở cổng mời họ vào. Họ đi qua lối mòn, tối lờ mờ, có thể thấy bóng đen của cầu thang ở phía trước, bụi bám ở chân tường và những đồ đạc không dùng lâu ngày, họ đi ngang qua cái sân ẩm ướt có mùi khó chịu, lão gìa da đen đưa họ vào căn phòng màu tối mà có đồ đạc bằng da trông ảm đạm. Khi lão gìa da đen mở cửa sổ nơi góc tối. Họ có thể thấy được trên ghế da có vết nức, khô vì thiếu lau chùi, khi họ ngồi xuống ghế, bụi mờ nhạt bốc lên rơi rớt xuống đùi họ, qua ánh sáng hạt bụi rơi chậm chạp, gía vẽ mờ vàng được đặt trên lò sưởi, đó là hình chân dung của bố cô.
Khi cô vào, mọi người đứng dậy. Một người đàn bà thấp lùn, trong bộ đồ đen, bụng đeo sợi dây xích vàng nhỏ, được bỏ vào trong dây thắc lưng to bảng, được thắt chặt ở bụng làm cho bụng có ngấn. Tay bà chống lên cây gỗ mun đen, mà trên đầu cây gỗ có trạm vàng lâu ngày trở thành màu vàng nhạt. người bà ta nhỏ nhưng vì mập nên trông bà ta như một đứa bé mụ mẫm, còn thân hình của bà phù lên trông giống như hình của một con cá đã chết, trôi lềnh bềnh trên mặt nước, nó xanh xao, vàng vọt. Còn hai mắt của bà lõm xâu vào, bởi vì hai má của bà có đầy thịt nhô lên. Hai con mắt của bà láu liên nhìn cô, khi người đại diện thông báo rằng lý do tại sao cô có mặt ngày hôm nay.
Cô đứng yên lặng trước cửa, lắng nghe cho đến khi người đại diện đến bên cô thì thầm đơi điều bên tai cô, sự yên lặng đến nỗi họ có thể nghe được tiếng chuông kêu tíc tắc của đồng hồ treo trên tường.
Giọng nói của cô khô khan, và lạnh lẽo.
“Tôi không có thiếu thuế ở Jefferson, Đại tá Sartoris đã giải thích cho tôi điều đó, có lẽ các ông nên tìm hồ sơ còn giữ lại ở thành phố để hiểu rõ điều này.”
“Nhưng chúng tôi là những người đại diện và có thẩm quyền trong thành phố này cô Emely à. Cô có nhận được tờ thông báo của ông quận trưởng gửi đến cô không?
Cô Emily trả lời họ.
“Vâng, tôi có nhận, nhưng ông ấy chỉ nói những việc làm của ông ấy liên quan đến công việc ở quận mà thôi, mà không thấy nói gì về thuế má cả.”
Rồi cô lại tiếp.
“Và tôi chả trông thấy chứng từ nào nói đến việc tôi thiếu thuế cả, có lẽ chúng ta đi gặp…”
Có một người đáp lời.
“Gặp Đại tá Sartoris à. Cô thừa biết rằng Đại tá đã chết mười năm nay rồi.”
Lão gìa da đen lại xuất hiện, và mời họ ra khỏi nhà.
Rồi thì cô cũng chế ngự được họ, giống như cô đã từng chế ngự cha, chú của họ cách đây vào khoảng ba mươi năm về trước. Đó là hai năm sau khi cha cô mất, trong thời gian này cô có người yêu, người mà cô tin rằng ông ta sẽ lấy cô, nhưng điều ấy không thể xẩy ra mà trái lại ông ta đã bỏ cô và cũng từ đó mọi người thấy cô ít xuất hiện trước công chúng, có vài người phụ nữ can đảm đã gọi cô, nhưng không thấy cô trả lời, và họ chỉ thấy người da đen gìa và người da đen trẻ ở ngoài chợ với những cái túi xách thực phẩm.
Một người phụ nữ hỏi.
“Chắc phải báo cho người làm của cô Emily giữ gìn cái bếp cho được sạch.”
Rồi thì ngày lại ngày, mùi hôi thối bốc ra từ nơi nhà bếp của cô Emily càng ngày càng nồng nặc, một người phụ nữ hàng xóm kêu ca, phàn nàn với ông thị trưởng thành phố ông Judge steven, ông này tám mươi tuổi. Ông nói.
“Bà muốn tôi phải làm gì nào?”
“Tại sao ông không gửi lá thư đến cô Emily , bảo cô nên xem lại cái bếp, chứ nó hôi quá.”
Và người đàn bà tiếp.
“Như vậy nó có phạm luật không?”
Ông thị trưởng nói.
“Tôi nghĩ nó không cần thiết lắm, có lẽ người làm của cô Emily giết rắn , hay chuột rồi quẳng đằng sau vườn, thôi để tôi sẽ hỏi họ.”
Và những ngày kế tiếp ông lại nhận thêm những điều kêu ca nữa, từ sự phản đối của những người đàn ông, có một người nói.
“Ông phải làm điều gì chứ ông thị trưởng, tôi sẽ là người cuối cùng ở trên thế gian này làm phiền đến cô Emily, nhưng chúng ta phải làm cái gì.”
Và đêm đó, hội đồng thành phố lại gặp nhau, ba người đàn ông có bộ râu dài,và một người trẻ tuổi là thành viên của thế hệ trẻ.Người trẻ tuổi nói.
“Rất giản dị gửi cho cô Emily một thông báo nói rằng nhà bếp của cô cần làm sạch sẽ, nếu không thì….”
Ông thị trưởng nói.
“Đừng vội nóng, anh bắt lỗi , khi thấy môt người đàn bà để bộ mặt không trang điểm, không son phấn chăng? “
Rồi những đêm kế tiếp , sau nửa đêm, có bốn người đàn ông băng ngang qua thảm cỏ nhà cô Emily, như những tên ăn trộm, họ đứng dọc theo chân tường ngay hầm chứa rượu nghe ngóng động tĩnh,họ cố gắng mở hầm rượu. Trong khi ấy có một tên thò tay vào trong túi sắc, mà được treo ở trước ngực, lấy ra một chất bột rồi rải xuống đất. Chúng mở được cửa hầm rượu,và rải thêm chất bột vào trong hầm . Xong đâu đấy, chúng trở lại đi ngang qua thảm cỏ, và lần này cửa sổ nhà cô Emily được mở ra, cô đang ngồi bất động trên ghế, sau lưng cô là ánh sáng của ngọn đèn, tỏa chiếu và hắt ra ngoài cửa sổ, phần ngực của cô bất động như bức tượng.
Chúng bò ngang qua sân cỏ một cách lặng lẽ, vào trong cái bóng của cây tùng bách.mà bóng cây này nằm song song với mặt đường. Sau một tuần lễ thì mùi hôi thối ở nhà cô không còn nữa.
Khi những người sống trong thành phố lấy làm bực mình vì cô Emily thì họ nhớ lại bà dì lớn tuổi của cô có tính điên khùng, và họ tin rằng cô cũng có cái tính ấy vì không có một chàng trai nào trong thành phố làm cô vừa ý, trong bức hình đen trắng được đặt trên lò sưởi, cô có hình dáng mảnh dẻ, đứng bên cạnh là cha cô, ông đứng hai chân dạng ra, khuôn mặt nghiêm nghị với cặp kính màu trắng, tay nắm chặt roi đánh ngựa.
Khi cô vào khoảng ba mươi, độc thân, những chàng trai trong thành phố tự bào chữa mặc dù giòng họ cô có máu điên, nhưng cô vẫn có thể yêu, nếu cô gặp được người cô yêu thích, và khi cha cô mất, ông dể hết tất cả tài sản cho cô. Đó là căn nhà và những người làm da đen cùng một số nợ, nó làm cho mọi người trong thành phố hài lòng, ít nhất là họ cũng thương hại cô vì cô sống trơ trọi một mình, và với sự nghèo túng, thì cô sẽ trở nên nhân đạo hơn, như thế cô sẽ biết thế nào là niềm vui mừng, sự xúc động của nỗi xa xưa khi gia đình cô giàu có.
Ngày cha cô mất, tất cả những người phụ nữ trong thành phố gọi điện dến cô chia buồn cùng cô, họ đến nhà thăm hỏi, mặc đồ bình thường,cô đứng ở cổng. Trên mặt cô không lộ vẻ buồn, hay thương tiếc, cô nói với họ rằng cha cô chưa chết, phải đợi đến ba ngày sau ông mục sư mới thông báo đến cô, cùng với những vị bác sĩ, họ thuyết phục cô để cho họ lo đám tang cha cô họ phải dùng đến luật pháp, để áp lực cô, chôn cất cha cô càng sớm càng tốt.
Sau đó cô bị một trận ốm rất là lâu, khi họ trông thấy cô thì tóc cô được cắt ngắn, trông cô giống như một người con gái, mà hình tượng này giống như hai thiên thần, có màu sắc sặc sở được trang trí ở cửa sổ nhà thờ, trông sáng sủa và yên bình.
Thành phố có hợp đồng làm đường, làm sạch vĩa hè, vào mùa hè, sau khi cha cô mất, thì hợp đồng ấy bắt đầu thực hiện, công ty xây dựng đến thành phố với một số người lao động da đen, cùng với lừa, và máy móc dụng cụ làm đường, có một ông cai tên Homer Barron, một người lính Bắc quân, hình dáng ông to lớn, da xạm nắng, siêng năng cần mẫn có giọng nói to, cặp mắt trong sáng. những đứa trẻ chơi chung quanh tốp thợ làm việc, đều nghe ông cai chưởi rủa bọn thợ da đen, còn họ thì khi làm việc ca hát, sinh động. Chẳng bao lâu thì người dân trong thành phố biết đến ông cai, khi họ nghe tiếng cười rộn rã ở góc phố nào thì đó là tiếng cười của tốp thợ, và ông luôn luôn là người đầu têu. Và cũng trong thời gian này, họ bắt đầu nhìn thấy ông cai cùng cô Emily vào bữa trưa chủ nhật họ ngồi trên xe ngựa có người đánh xe mặc trang phục hẳn hoi.
Trước tiên họ vui mừng cô có bạn trai, nhưng tất cả phụ nữ trong thành phố họ nói rằng cô sẽ không lấy anh chàng miền Bắc đâu,vì trông ông ta có vẻ dân lao động qúa. Nhưng lại có một số người nhất là những người gìa thì cho là cô đã quên đi giòng họ quí tộc của mình, và họ buộc miệng than “Tội nghiệp cho cô” Xen lẫn những sự ghen tuông của họ, và mỗi khi họ thấy cô và ông cai trên chiếc xe ngựa đi qua mặt họ thì họ buộc miệng than “Tội nghiệp cho cô Emily “
Còn cô thì lúc nào cũng ngẩn đầu cao để chứng tỏ rằng cô vẫn còn đảm lược, và cho mọi người thấy được lòng tự trọng của cô và nếu có ai chứng tỏ thô bạo với cô thì cô cũng có thể chống trả lại được, giống như câu chuyện được kể dưới đây khi cô đi mua thuốc giết chuột, đó là chuyện hơn một năm, sau khi họ bắt đầu nói tội nghiệp cô, và trong khi ấy có hai người phụ nữ bà con đến thăm cô, lúc này cô trên ba mươi tuổi, người mảnh khảnh, với cặp mắt đen láy , kiêu căng.
Cô nói với người bán thuốc.
“Tôi muốn mua một ít thuốc độc.”
Người bán hàng hỏi cô.
“Vâng, thưa cô muốn loại nào ? loại giết chuột hay là để tôi giới thiệu cho cô….”
Cô trả lời .
“Loại tốt nhất.”
Người bán hàng cho tên một vài loại, và ông tiếp.
“Chúng có thể giết được cả voi nữa. Vậy cô muốn mua loại nào?”
Cô trả lời.
“Loại thuốc độc để giết côn trùng.”
Người bán hàng nhìn cô, cô nhìn thẳng lại cặp mắt anh ta khuông mặt cô lúc ấy nghiêm trang trầm trọng, người bán hàng tiếp lời.
“Nếu cô muốn mua thuốc độc để giết côn trùng thì cũng được thôi, nhưng luật pháp đòi hỏi rằng loại côn trùng nào mà cô muốn giết….”
Cô vẫn không nói tiếng nào, cô vẫn nhìn thẳng vào mắt anh ta, cho đến khi anh gói xong món hàng, và đưa cho thằng bé da đen giúp việc trong tiệm để hắn đưa cho cô , khi gói xong anh quay đi không nhìn cô. Khi về đến nhà cô mở gói hàng ra, đó là một hộp thuốc ở ngoài có dán hình xọ người có xương chéo đề hàng chữ “thuốc độc để giết chuột “
Và những ngày kế tiếp dân trong thành phố nghĩ rằng cô sẽ tự tử, vì đó là cách tốt nhất, lần đầu tiên cô gặp ông cai, họ nhủ thầm, “cô sẽ lấy ông ta.” và nữa, “cô sẽ thuyết phục ông lấy cô,” Bởi vì ông cai có dấu hiệu là ông thích đàn ông, và họ biết rằng ông thường uống rượu với những chàng trai trẻ ở Câu lạc bộ Elk.vì trong lúc ấy , ông không giống như là một người có gia đình, và kế đó họ nói “Tội nghiệp cô Emily.” Đằng sau những lời đàm tiếu, ganh ghét, khi cô cùng ông ngồi trên xe đi qua đám đông vào trưa chủ nhật, mặt cô ngẩn cao như khiêu khích, còn ông đầu đội mũ có lông công, và miệng ngậm điếu ciga to tướng, ông cầm cương và roi ngựa mang bao tay có kim tuyến vàng rực rỡ.
Và cũng từ đó, bắt đầu có một vài người phụ nữ xì xào, to nhỏ nói rằng đó là sự nhục nhã trong thành phố, làm nhục chí cho giới trẻ, những người đàn ông thì không có ý kiến gì. nhưng cuối cùng thì những người phụ nữ yêu cầu ôngmục sư, và hội đồng mời gọi cô, ông mục sư không tiết lộ những diều gì khi ông tiếp xúc với cô Emily. Sau đó thì ông từ chối không trở lại gặp cô Emily nữa.
Chủ nhật kế tiếp, những người phụ nữ lại ào ào ra đường, và bà vợ ông mục sư viết lá thư đến cho người bà con của cô ở Alabama.
Dân chúng thành phố vẫn chờ đợi xem việc gì kế tiếp sẽ xẩy ra, nhưng không có chuyện gì ầm ỹ cả , và họ tin chắc rằng hai người sẽ lấy nhau, họ cũng biết được rằng cô đã đến tiệm kim hoàn thành phố đặt làm hai khung treo khăn mặt trong phòng tắm bằng bạc có khắc hai chữ H.B ở trên mỗi khung. Hai ngày sau, họ cũng biết được rằng cô đã mua một bộ đồ lớn cho ông cai gồm bộ áo mặc dạ vũ ở tiệm may nổi tiếng cho đàn ông trong thành phố. Dân chúng rất mừng khi nghe tin như thé, họ có lý do vui mừng là bởi vì hai người phụ nữ có họ với cô sẽ tiếp tục làm như cô là đi lấy chồng, mà sắc đẹp của họ không thua kém gì cô, mà còn có thể hơn.Và họ cũng không ngạc nhiên là ông cai đã đi khỏi, khi đường xá mà ông cai đã làm xong. họ cũng có một ít thất vọng là quần chúng để ông đi không ồn ào. Nhưng họ vẫn tin rằng, ông ra đi để sửa soạn cho cái ngày đám cưới của ông với cô Emily, và cũng là dịp mà cô không còn ở chung với những người bà con của cô.
Khoảng một tuần lễ coi như chuyện đã quên đi, ông cai trở lại thành phố, đó là lời nói của ông lão da đen người làm của cô nói chuyện với ông hàng xóm là ông đã nhìn thấy ông cai ở trước cửa nhà bếp vào một buổi tối mờ trời.
Đó là lần cuối cùng dân thành phố họ nghe nói đến ông cai cùng với cô đi chợ có người làm da đen đi theo sau họ. Cánh cổng nhà cô vẫn đóng chặt, nhưng họ vẫn thấy lâu lâu cô đứng ở cửa sổ, chỗ mà những người đàn ông bò vào nhà cô rải thuốc trước đây mà họ nhìn thấy cô. nhưng vào khoảng sáu tháng nay họ không còn nhìn thấy cô. Họ cũng lấy làm mừng rằng, có lẽ cô cùng ông cai đang hưởng hạnh phúc ở một nơi nào đó. Họ cho rằng có lẽ cha cô đã phù hộ cho cô.
Nhưng khi họ gặp lại cô, thì lúc này trông cô đẫy đà, tóc cô đã có màu muối tiêu, và những năm kế tiếp tóc cô càng ngày càng bạc ra và bạc trắng cho đến ngày cô mất cô được bẩy mươi bốn tuổi.
Trong khoảng thời gian cổng nhà cô đóng chặt lúc đó cô khoảng bốn mươi tuổi, đang học vẽ tranh sơn dầu, cô vẽ rất nhiều tranh và treo đầy phòng ở dưới lầu cạnh cầu thang lên xuống ăn thông với lầu hai, nơi mà con gái cùng cháu gái của Đại tá Sartoris, những người ấy cùng thời với cô, họ đến đẻ xem và mua tranh, cũng là lúc mà Đai tá Sartoris miễn thué cho gia đình cô.
Thế hệ mới trở nên nồng cốt, và là cột trụ của thàng phố, họ là một số học trò của cô theo học vẽ, sau đó họ bỏ đi hết, rồi sau đó cánh cổng nhà cô đóng chặt, khi thành phố có sự hợp tác của bưu điện và người dân trong thành phố về sự giao nhận hàng mà người dân không phải trả lệ phí, cô từ chối sự đề nghị ấy, khi bưu điện gửi những thùng thơ để cô máng trước cửa nhà thì cô từ chối không nhận.
Hàng ngày họ vẫn thường thấy những người làm da đen của nhà cô đi chợ, mỗi năm vào tháng mười hai, sở thuế vẫn thường gửi giấy thuế đến nhà cô, rồi họ vẫn thường thấy cô ở cửa sổ lầu hai,còn các cửa khác thì bị đóng lại. Rồi thì ngày lại ngày, thế hệ này sang thế hệ khác, có những điều không tránh khỏi, tháng ngày lặng lẽ trôi qua thanh bình, cô vẫn ngoan cố cho đến khi cô mất.Cô ngã bệnh trong căn phòng đầy bóng mờ và tối chỉ có một lão gìa da đen bên cạnh cô. Họ không biết là tại sao cô bị bệnh, họ tìm tin tức nơi những người da đen làm việc cho cô và những người này không bao gìơ hở môi cho ai. Cô mất ở một trong những căn phòng ở dưới lầu. Cô nằm trên giường gỗ gụ có màn che, cái đầu bạc của cô được chống đỡ bởi cái gối đã ố vàng cùng với căn phòng thiếu ánh sáng.
Người lão bộc da đen đứng trước cửa phòng mời chào một số người phụ nữ đi vào cùng với âm thanh rộn rã của họ, họ nhìn thật nhanh vào phòng với những ánh mắt tò mò, sau đó thì người lão bộc da đen đi khỏi. Ông đi ngang qua những căn phòng đi về phía sân sau nhà và không thấy ông nữa.
Những người phụ nữ bà con của cô đến cùng lúc, họ giữ lễ tang hai ngày để cho dân chúng nhìn cô lần cuối, trên người cô được phủ đầy hoa. Ngoài hành lang và bãi cỏ, một số người cùng thời với cô đang nói chuyện về cô mà họ tin rằng đã có lần họ cùng với cô khiêu vũ hay ve vãn cô, bây gìơ với thời gian, tuổi tác làm cho họ lầm lẫn không nhớ ra được rõ ngày tháng và họ biết được rằng có một căn phòng ở một nơi nào đó ở trên lầu không ai được nhìn thấy từ bốn mươi năm nay. Họ muốn được thấy căn phòng đó, họ chờ cho đến khi cô được chôn cất xong thì họ sẽ mở căn phòng ấy.
Sự quá khích của một nhóm người muốn mở cửa phòng càng ngày càng có thêm một số người ủng hộ,do đó họ mở cửa trong phòng một số vải mỏng màu sắc sặc sở để phủ quan tài nằm rải rác khắp nơi trong phòng chúng giống như được trang trí ở trong phòng cô dâu. Trên tường có bức màn trướng màu hồng đã cũ, dưới bức màn là cái bàn trang điểm, kế bên là khung sắt mạ bạc, trên khung sắt có khăn, nơ, bên cạnh là cái ghế đang treo bộ đồ lớn, nó được treo lên một cách cẩn thận, dưới bàn là đôi giầy và vớ, người nằm trên giường là ông cai.
Họ nhìn ông rất lâu, ông nằm giống như người ngủ say, bộ mặt nhăn nhó trong thân hình tiều tụy, mà thân hình này đã có lần được nằm với tư thế ôm ấp, nuông chiều, bây giờ nằm đó với một giấc ngủ dài, với tình yêu lâu bền mãi mãi, mặc dù khuôn mặt ông đang thể hiện tình yêu đau đớn. Những gì đã để lại cho ông là bộ đồ lớn đã cũ không thể lấy ra được, nằm ở trên giường mà ông đã nằm lên nó, bên cạnh ông là cái gối yên lặng, chờ đợi mà giờ đây đã phủ đầy bụi.
Và họ nhân ra rằng, ở cái gối thứ hai này được lõm vào bởi một cái đầu lâu. Một người trong đám cầm cái đầu lên xem, trông nó mờ nhạt và ốm yếu, phủ bởi những bụi phấn khô nom không rõ, trong cái lỗ mũi đen sâu hoắm là một cái bím tóc dài bạc trắng.
nguon : nhanvan.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s