DU HÀNH LÊN MẠN NGƯỢC

ký sự của Alfred Cunningham (1)
chuyển ngữ : Ngô Bắc

DẪN NHẬP
Các trang sau đây là kết quả của một cuộc thăm viếng Bắc Kỳ với một chiếc máy chụp ảnh trong mùa xuân năm 1902, và của các sự quan sát ghi nhận được bởi người viết với tư cách một ký giả thường trú tại Hồng Kông. Một số độc giả có thể nhận định rằng đã có quá nhiều tầm quan trọng được gắn liền với các tham vọng của các láng giềng của chúng ta, những kẻ, như bị cáo giác, phần lớn bị ảnh hưởng bởi xúc cảm; và rằng các công tác của ông Doumer đã được gán cho sự nổi bật và nhấn mạnh không cần thiết.

Nhiều con số trích dẫn được rút ra từ báo cáo của ông Doumer; các con số khác đước biên soạn từ nhiều nguồn tin đáng tin cậy khác nhau.
Người viết nhân cơ hội này xin ghi lại lòng biết ơn của mình đối với các nhà Chức Trách tại Bắc Kỳ về sự lịch sự đã dành cho người viết.
Người viết không dự tính trưng dẫn lịch sử cổ xưa của Bắc Kỳ hay ngay cả việc kể lại sự chiếm đoạt nó: các sự kiện này được thảo luận một cách thích đáng tại các tác phẩm khác. Mục tiêu của người viết là cố gắng và trình bày một sự phác thảo chính xác về thuộc địa y như hiện trang vào lúc này, và để thiết định một sự so sánh giữa Pháp và Anh, trong hoạt động chính trị và thuộc địa, với hy vọng rằng chúng ta có thể được khích động để tiến tới các thành quả tốt đẹp hơn nữa.
Hồng Kông, ngày 1 Tháng Tám, 1902.

Hành trình từ Hải Phòng về Hà Nội có thể được thực hiện một phần bằng tàu hơi nước, và một phần bằng xe hỏa, hay du khách có thể lên xe hỏa tại Hải Phòng và năm tiếng đồng hồ sau đổ xuống Hà Nội. Miền châu thổ phì nhiêu nằm giữa Bắc Kỳ, giống như miền tây nam Trung Hoa, đầy các giang lộ, trên đó tọa lạc nhiều trung tâm bản xứ quan trọng về kinh doanh và các đồn quân sự bị biến đổi trong thời bình thành các kho trung chuyển hàng hóa [entrpots, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] của các kẻ thực dân siêng năng.
Yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của Bắc Kỳ là đoàn tàu hơi nước đường sông có tầm nước nông tuyệt hảo được gọi là Dịch Vụ Được Trợ cấp Về Giao Thông Vùng Phù Sa tại Bắc Kỳ (Service Subventionné Fluviales au Tonkin), và được sở hữu bởi các ông Marty và D’Abbadie. Trụ sở của công ty này đặt tại Hải Phòng, nơi mà các văn phòng của họ tạo thành một dẫy cao ốc kinh doanh oai vệ nhất, và xưởng đóng tàu của họ, nơi mà nhiều chiếc tàu hơi nước của họ được đóng, là công nghiệp lớn nhất trong ngành tại Đông Dương. Công việc kinh doanh được đích thân chỉ huy bởi hai người đứng đầu xí nghiệp, những kẻ mà năng lực và sự bén nhạy thương mại đã tạo ra sự thành công cho công ty. Các tàu hơi nước của công ty này cung cấp các phương tiện cho sự truyền thông cá nhân với vùng nội địa; chúng chuyên chở các binh sĩ và chở khách du lịch; chúng vận tải thư từ và hàng hóa đến các phần sâu xa nhất của thuộc địa, và nơi mà sau hết các con sông quá nông để tiếp nhận được các tàu hơi nước có bánh lái sau đuôi với tầm nước nông hai bộ Anh (feet), công việc được đảm nhận bởi các thuyền bản xứ của Công Ty này và các thuyền khác làm việc với Công Ty. Đoàn tàu được trợ cấp bởi Chính Phủ; các chiếc tàu được trang bị hoàn hảo và cung cấp một khối lượng tiện nghi đáng ngạc nhiên khi cứu xét đến kích thước của một số tàu trong chúng. Đề tạo sự thuận tiện cho các khách du lịch, Công Ty ấn hành một quyển Hướng Dẫn Khách Du Lịch (Guide des Voyageures) hàng năm chứa đựng các thông tin thiết yếu và gồm cả một biểu đồ bằng màu, chỉ các tuyến đường được chạy bởi các tàu hơi nước.

Một Tàu Hơi Nước Đường Sông Với Thuyền Chở Khách Bên Hông
Khi muốn về Hà Nội, chúng tôi lên tàu từ Hải Phòng vào lức 8 giờ tối, và nhận thấy tàu chật đầy các khách đi. Nhiều người cẩn thận đặt mua vé các buồng riêng (cabins) trước, và chúng tôi đã có sự lụa chọn hoặc nằm ngủ trên các ghế dài ở phòng khách lớn hay trên sàn tàu. Chúng tôi ưa thích trên sàn tàu hơn, nhưng một lá thư cá nhân của ông D’Abbadie sau rốt đã dành cho chúng tôi một buồng riêng ở một phần xa cách của chiếc tàu, mặc dù viên ủy nhiệm [commissaire, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], viên chức phụ trách vừa là thuyền trưởng kiêm quản lý tài chính, đã nói với chúng tôi và các hành khách thất vọng khác mà không đỏ mặt, rằng không còn giường ngủ còn trống nào. Cách xử sự chân thật của ông dưới các tình huống căng thẳng cần phải được nêu ra để thăng thưởng cho ông ta.
Căn buồng trên tàu tính chúng tôi $3, tất nhiên là nhỏ và rất nóng, nhưng chúng tôi không quan tâm vì chỉ cần qua một đêm. Sự thản nhiên chịu đựng của chúng tôi đối với bất kỳ sự bất tiện nào mà sau này chúng tôi trải qua có lẽ là nhờ ở kinh nghiệm ban đầu của chúng tôi về cuộc sống khách sạn ở Hải Phòng. Chúng tôi khá kém may mắn để tới khi thị trấn đầy các viên chức và gia đình của họ đang thay đổi nhiệm sở, và nơi ở duy nhất chúng tôi có thể có được là chỗ nằm trên sàn của phòng ăn riêng của một khách sạn hàng đầu. Có bảy người khác ở trong cùng hoàn cảnh khốn khổ. Giới quản lý chắc chắn đã cố gắng tối đa để làm chúng tôi thoải mái, và các con muỗi đã tung hết năng lực của chúng nhằm cắt giảm sự thoải mái đó. Có bao giờ bạn có kinh nghiệm với muỗi Hải Phòng hay chưa? Chúng tôi đã từng phải chịu sự tàn phá của “con [muỗi] hổ” [?”tiger” trong ngoặc kép, nhiều phần không phải để chỉ con hổ chính danh, có lẽ là một cách nói thậm xưng chỉ một loại “muỗi” đáng sợ nào khác ở vùng này, chú của người dịch] tại Vịnh Gulf of Tartary, và họ hàng của nó tại Phi Luật Tân, nơi mà có những chỗ các binh sĩ Tây Ban Nha bị bắt buộc phải bao che khuôn mặt của họ trong khi canh gác; cùng với các cuộc tấn công của quân xâm lăng âm thanh của một loại xe hỏa của Nhật vào buổi tối, và loại sinh sản tại vùng Eo Biển [Mã Lai], nhưng các con muỗi anophèles của Hải Phòng là một quái vật khát máu không có đối thủ. Chúng tôi không ngủ một phút nào xuyên qua các cơn hấp hối im lặng của buổi tối sau cùng đó. Chúng tôi chùm mình bằng các chiếc chăn màu xám dầy với nỗi nguy ngộp thở trước mắt, nhưng các con ác muỗi Hải Phòng cách nào đó chui qua được hay đã cắn xuyên qua chiếc mền. Chúng tôi bật đèn sáng và giữ quạt máy điện trên đầu quay tròn, nhưng tiếng kêu vo ve của chúng, cùng với tiếng ngáy giọng trầm phụ họa của một khách bên cạnh, gần như đã nhận chìm tiếng quạt. Sau cùng, chúng tôi ngồi dậy và đợi cho đến khi trời sáng, mà chỉ với điều ấy mới cứu nguy được. Rõ ràng chúng vẫn chưa nhiệt tình với lý thuyết muỗi sốt rét tại Bắc Kỳ, bởi tại Hải Phòng và Hà Nội, khắp nơi đều có các ao tù nước đọng để nuôi dưỡng giống muỗi anopheles làm chúng ta run sợ. Bắc Kỳ là một nơi chốn phải cung cấp cho các lý thuyết gia muỗi sốt rét của chúng ta một vùng đất cắm trại huy hoàng, nơi mà mọi người đều có thể bị đốt một cách tự do vì mục đích khảo cứu khoa học.


Trên Con Sông Lô, Quang Cảnh Một Tai Họa

Chúng tôi có ít muỗi cùng với chúng tôi trên chiếc tàu này, cũng như một ít muỗi trên các chiếc tàu khác, và bất kỳ ủy ban vô tư nào của Hội Chợ Triển Lãm Hà Nội nên dành giải thưởng cao nhất cho các con muỗi anopheles Bắc Kỳ. Các loại muỗi khác mà chúng tôi đã gặp chỉ vào “hạng đáng khen”.


Một Chiếc Thuyền Chở Khách Bản Xứ

Chúng tôi không được phép quên không nhắc đến bữa cơm tối tuyệt hảo được cung cấp tại buồng tàu, và trong suốt các cuộc du hành ngắn của chúng tôi trên các tàu hơi nước của Hãng Giao Thông Miền Phùn Sa, chúng tôi nhận thấy các bữa ăn lúc nào cũng ngon miệng. Thật là điều kỳ điệu để hiểu được làm sao mà trên một số các tàu hơi nước loại nhỏ hơn, chỉ chuyên chở khoảng nửa ta hành khách hạng nhất, chúng lại có thể nấu ăn cho khách trong một cung cách như thế. Khách thăm viếng không cần lo nghĩ về các bữa ăn của mình tại Bắc Kỳ; người Pháp để ý kỹ lưỡng về vấn đề đó.
Chúng tôi đến Đáp Cầu vào 5 giờ sáng hôm sau, và, sau một ly cà phê, lên bờ và dùng xe hỏa tại trạm ven sông dọc cầu tàu. Đây là một đường nhánh ngắn từ tuyến đường chính đến Lạng Sơn. Đáp Cầu nổi tiếng chính yếu về các viên gạch to và ngói mái nhà của Công Ty Các Ông Blazeix (Messrs. Blazeix & Co.). Trạm hiện nay bao gồm một toa xe cũ trên một đường tàu phụ (đường tàu tránh) được lập để đáp ứng mọi đòi hỏỉ và được trông nom bởi một trưởng trạm người An Nam.
Xe hỏa, được kéo bởi một đầu máy nhỏ có mang két nước thuộc loại chỉ được dùng hiện nay cho tuyến đường Lạng Sơn, bao gồm, vào khoảng một tá toa xe. Các hành khách có sự lựa chọn để du hành trong bốn hạng, hạng chót là một toa trần không có chỗ ngồi dành cho dân bản xứ là các kẻ không thể đài thọ cho giá vé hạng 3. Hạng nhất thì thoải mái, và các toa được xây dựng theo họa kiểu có đường hành lang với lối ra ở mỗi đầu toa. Các toa đều được bọc nệm rất tốt, được trang bị hoàn hảo mọi chỗ và có một phòng vệ sinh. Chúng được chế tạo tại Pháp và theo một kiểu mẫu của Hoa Kỳ. Các giá vé xe hỏa rất phải chăng và hành trình từ Đáp Cầu đến Hà Nội, vé hạng nhất, giá $2.50: hành trình kéo dài khoảng 1 giờ 20 phút, xe hỏa chạy với một tốc độ trung bình – khoảng 20 dặm Anh (miles) một giờ, nhưng ngừng lại tại từng trạm. Dân bản xứ là khách hàng đông đảo của trạm xe hỏa, và họ du hành với giá rất rẻ.
Quang cảnh chúng tôi đi qua làm gợi nhớ lại vùng đất sản xuất lúa gạo bằng phẳng của sông Dương Tử [Trung Hoa]. Hàng dặm các cánh đồng lúa gạo trải dài ở cả hai bên, một biển lúa xanh sinh động, chỉ bị ngắt quãng bởi các bụi cây xanh đậm hơn bao quanh các thôn ấp bản xứ, xuyên qua đó các đầu hồi và mái nhà của các trang trại An Nam nhô lên. Một con đường bộ chạy song song với tuyến xe hỏa, trên đó đi qua mặt một chiếc xe kéo đôi khi – ngay giờ này một di tích của phương tiện lưu động thời quá khứ; hay một nhóm các dân bản xứ nhiệt tình, với cờ quạt, hương và các lễ vật, thờ phụng ở các ngôi miếu Phật Giáo hoang phế. Một dẫy nhà có các lỗ châu mai đổ nát [phải là dilapidated, trong nguyên bản tiếng Anh in sai là delapiđate, chú của người dịch], có tính chất công kích trong thiết kế đơn giản, hình vuông, nói lên các cuộc tranh đấu của thời trước kia khi người dân Bắc Kỳ và Quân Cờ Đen kháng cự lại cuộc tiến quân của người Pháp. Các phụ nữ và thiếu niên đang làm việc cực nhọc tại các cánh đồng lúa khoảng khoát, thường ngập nước với một chiếc gầu đan bằng gai, có một sợi dây thừng tại mỗi đầu, mà họ lần lượt thả xuống ao và kéo lên cánh đồng cao hơn, nghiêng đổ nước trong gầu, trong một chuyển động nhịp nhàng, chỉ ngừng lại để nhìn chằm chằm vào đoàn xe lửa ngang qua. Khi chúng tôi băng ngang thành cũ của Bắc Ninh, các binh sĩ An Nam chạy ùa ra như một đám học trò huyên náo để nhìn xe hỏa đi qua. Các cảnh tượng tại các trạm xe hỏa làm gợi nhớ đến quang cảnh tại Nhật Bản. Có các kiểm soát viên bản xứ oai nghiêm trong đồng phục chỉnh tề thi hành phận sự, các phu khuân vác bản xứ được chỉ huy bởi viên trưởng trạm An Nam đội khăn đóng và mang áo dài. Đám đông dân làng há hốc mồm, nhìn trừng trừng khi gặp các hành khách đến nơi và các quầy của các kẻ bán trái cây và thức ăn lưu động. Trạm thường gồm một tòa nhà khiêm tốn, đơn giản, rộng lớn không có các nhà ở, và, nơi mà các người Âu Châu cư ngụ, với các khu vườn trồng rau trong lành và các loại hoa đẹp đẽ, trục kéo (tời) bằng gỗ trên giếng nước hoàn tất một bức tranh làm gợi nhớ các cảnh trí của các trạm xe lửa nông thôn nơi quê nhà. Chiếc đồng hồ trạm xe lửa ở đó, với các bảng cáo thị và hộp điện tín, trên đó có dán hàng ngày các tin tức mới nhất từ Âu Châu của hãng tin Havas – miễn phí cho tất cả những ai quan tâm để đọc đến.
Khi gần đến Hà Nội, các đồng lúa đã nhường chỗ cho các vườn trồng rau, kết quả của chúng cung cấp cho các chợ ở Hà Nội.
Hành trình từ Hà Nội đến Đồng Đăng, tại biên cương với Trung Hoa, được mô tả ở một chương khác.
Nếu khách viếng thăm mong muốn nhìn thấy sinh hoạt ngược dòng sông, một chuyến đi rất thú vị có thể được thực hiện cho tới Việt Trì, tại điểm giao nhau của ba con sông, và từ đó đến Chợ Bờ, trên sông Đà (Black River, Sông Đen) hay tới Tuyên Quang, trên sông Lô (Claire River, Sông Nước Trong). Chúng tôi rời Hà Nội trên một chiếc tàu hơi nước chạy đường sông lúc 11 giờ sáng, trên đường đi tới Tuyên Quang và Chợ Bờ. Tàu hơi nước thực hiện cuộc hành trình lên Việt Trì là loại lớn và rộng rãi, và được trang bị một cách đáng nể phục. Lối đi ngược dòng sông Hồng rất thú vị, giang lộ này rất rộng và nông, các bờ sông được chấm họa với các ngôi làng Bắc Kỳ và các cánh đồng lúa. Thả trôi xuôi dòng là nhiều bè lớn bằng tre với các túp lều bằng gai trên mặt bè trong đó đoàn người chèo bè sinh sống.


Một Bè Bằng Tre

Đồn quân sự lịch sử của Sơn Tây được vươn tới vào lúc 3 giờ chiều, nhưng chỉ có ít điều được nhìn thấy từ chiếc tàu hơi nước. Các nhóm binh sĩ và dân bản xứ tụ tập đông đảo trên bờ sông dốc đứng để chào đón chiếc tàu hơi nước. Không có bãi đáp và các hành khách phải đi lên bờ bước qua một vài thanh gỗ khó gây được sự an tâm. Xuôi xuống dòng sông đôi khi là các tượng thú vật thô sơ và được gắn trên các chiếc bè nhỏ, rõ ràng là các phẩm vật dâng cúng bản xứ cho các vị thần dòng sông.


Lễ Vật Dâng Các Vị Thần Dòng Sông

Thị trấn Việt Trì, một trung tâm có một số tầm quan trọng về quân sự, được đến nơi vào lúc 6 giờ chiều. Có một dân số miền sông bản xứ lớn sinh sống trong các túp lều bằng gai được dựng trên các chiếc bè thả neo ngoài bờ sông. Khu định cư người ngoại quốc là một địa điểm nhỏ, đẹp mắt, bao gồm một số nhà gỗ một tầng (bungalows), hầu hết được cư ngụ bởi quân đồn trú. Có một văn phòng của công ty tàu hơi nước, và kế cận nó là một khách sạn nhỏ, cao một tầng, tạo thuận tiện cho du khách, chính yếu là các công chức hay các chủ đồn điền đi ngang qua. Một làng bản xứ được mọc lên chung quanh khu định cư và gần như mọi căn lều con đều mở một quầy giải khát nhỏ để lôi kéo các lính Pháp.
Việt Trì tọa lạc ở giao điểm của sông Hồng, sông Đà và sông Lô, và sẽ sớm trở thành một trung tâm đường sắt quan trọng, tuyến đường từ Hà Nội lên Lào Kay và Vân Nam đi ngang qua đây. Một chiếc cầu bằng thép mỹ lệ đang trong tiến trình xây dựng ngang qua sông Lô.
Chúng tôi đã ở lại khách sạn nhỏ bé khiêm tốn tối hôm đó và vào lúc rạng đông lên một chiếc tàu hơi nước nhỏ bé, có bánh lái đàng đuôi để đi Tuyên Quang. Chiếc tàu được dự trù để chứa bốn du khách hạng nhất, nhưng chúng tôi có tám người, cùng với nửa tá hạ sĩ quan [sous- officiers, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch], và khoảng ba mươi lính bộ binh An Nam. Được buộc chặt dọc theo chiếc tàu hơi nước là một thuyền bản xứ hẹp, dài, đầy chật các hành khách bản xứ và hành lý của họ.
Du hành trên sông Lô trên tàu có bánh lái sau đuôi không phải là không có điều đáng để ý và khoái chí. Phong cảnh rất quyến rũ và khi chiếc tàu càng ngược dòng xa hơn, cảnh trí càng trở nên nguyên sơ và xinh đẹp. Các ngọn đồi mênh mông nằm dọc hai bên bờ sông và tán lá phần lớn thuộc cây vùng nhiệt đới che phủ rậm rạp. Đôi khi các ghềng nhỏ được băng ngang và chiếc tàu hơi nước chỉ cách các tảng đá sắc nhọn kinh khiếp có vài phân Anh (inches), thùy thủ đoàn trực sẵn với các chiếc sào để chống đỡ trong trượng hợp cần thiết.


Nơi Cập Bến Tại Sơn Tây

Sông Lô thì rộng nhưng rất nông, và cứ mỗi vài phút, tiếng còi được thổi bởi một viên thuyền trưởng bản xứ và hai nhân viên đoàn lái thuyền cầm lấy các sào tre, trên đó có các số đo lường được đánh dấu, và, ở các tư thế lom khom, họ thăm dò và đọc lên chiều sâu. Đột nhiên, có một tiếng động cọt kẹt vang lên và chiếc tàu hơi nước mắc cạn trên một nền cát. Máy tàu được trả ngược số, thường không có hiệu quả, và thủy thủ đoàn cố gắng dùng sào đẩy. Nếu không thành công với nỗ lực này, họ xuống một chiếc thuyền tam bản (sampan) và đẩy ra xa một khỏang cách và rồi thả neo; họ trở lại và khởi động trục kéo (máy tời) để kéo về hướng neo, hy vọng nhờ thế kéo được chiếc tàu hơi nước ra [khỏi chỗ mắc cạn]. Thường nỗ lực này chứng tỏ thành công nhưng không phải luôn luôn, và trong nhiều dịp, họ đã lội xuống nước và cố gắng để bẫy mũi tàu lên, hay đẩy nó vào chỗ nước sâu hơn bằng đôi vai của họ. Thoạt tiên, động tác này thì thú vị và đáng để y nhưng sau sự lập lại nó dần trở nên nhàm chán, và, trong cái nóng của ban ngày không có gió, thật khó chịu. Một ngày chúng tôi đã mắc cạn tám lần, các khoảng nghỉ ngơi dài nhất của chúng tôi là ba đến năm tiếng đồng hồ, và chiếc tàu hơi nước đã chỉ nổi lên tại vùng nước sâu hơn bằng việc di chuyển các hành khách và hành lý sang chiếc thuyền bản xứ bên hông và quấy cát rời bằng bánh lái. Đúng ra, Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa phải trả một khoản tiền thuê đất cho một số con sông nội địa, bởi sự chiếm ngụ đáy sông của họ thì thường xuyên và kéo dài.


Dò lòng sông

Hậu quả là hành trình đôi khi kéo dài bởi vài ngày, nhưng việc này rõ ràng không tạo ra sự khác biệt trong giá biểu và các bữa ăn được cung cấp mà không phải trả phí tổn phụ trội: một sự sắp xếp rất tử tế và công bằng.
Đúng là một biến cố có tầm quan trọng đối với các cư dân của các trạm nội địa khi có tiếng rít lên của còi tàu báo hiệu sự cập bến của tàu hơi nước với các hành khách và thư tín. Toàn thể dân chúng – người Pháp và dân bản xứ — ùa ra từng toán [en bloc, tiếng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] và xếp hàng dọc bờ sông. Đây là trường hợp đặc biệt tại Phủ Doàn. Chúng tôi đã ngừng ở đó cả đêm, các hành khách không lên bờ ngủ trên sàn tàu.
Gần Hoa-Muc [?Hoa Moc] chúng tôi đã được chỉ cho thấy một tượng đài kỷ niệm được dựng lên cho 800 người Pháp được nói là đã bị hạ sát trong một cuộc phục kích, khi bị bao vây bởi 30,000 người Bắc Kỳ và Trung Hoa. Chúng tôi đã được nghe nhiều truyện kể về quang cảnh trận đánh nổi tiếng trong các niên sử Bắc Kỳ, nhưng con số dự trận và bị giết phần nào khác biệt trong các tài liệu cung ứng. Một số người luôn luôn thoát được các trận đánh đẫm máu này để thuật lại câu chuyện, và các tài liệu đã trở nên thần thánh hóa và phóng đại xuyên qua thời gian và sự biến hóa trong chi tiết.


Quang Cảnh Chiến Trường


Trận Đánh Hoa Moc [?], Tháng 3 năm 1885

Sự việc này làm nhớ đến câu chuyện về các kẻ buôn lâu trong quyển Le Lac de Gers của Topffer. Mười tám người trong họ mang thuốc súng trong các túi xách, đi bộ theo hàng một (Indian file), và kẻ đi sau chót, dần tin rằng khối hàng của anh mang nhẹ đi, đã bỏ túi xuống và tìm thấy một lỗ hổng. Anh ta nhìn thấy vệt thuốc súng làm lộ tẩy trên lối đi, và, lo sợ rằng nó tiết lộ bí mật của họ cho các viên chức Quan Thuế, anh ta kêu gọi ngừng lại, và truy tìm ngược lại bước đi của mình trong khoảng vài dặm đường cho đến khi anh ta hết cả thuốc súng. Anh ta đã ngừng lại ở đây để lau mồ hôi trên trán, và, chụp lấy một ý tưởng sáng chói, đốt một que diêm vào thuốc súng với ý định mau chóng phá hủy vết tích. Điều này hẳn sẽ là một mưu kế tuyệt hảo nếu không có các đồng chí của anh ta ở cuối vệt kia, đang chờ đợi anh ta quay trở lại, với mười bẩy bao thuốc súng. Kết quả là một tiếng nổ vang dội trong đó mười bẩy kẻ đã biến mất, trừ anh ta trốn thoát – để kể lại câu chuyện.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa như một sự coi nhẹ nhiều chiến công sáng chói của vũ khí của Pháp tại Bắc Kỳ trong suốt cuộc chinh phục của họ trên vùng đất này, các tài liệu về chúng mới được công bố hồi gần đây dưới hình thức quyển sách.


Các Ghềnh Thác Trên Sông Lô


Cun: Phủ Doãn

Cuộc phòng thủ anh hùng tại Tuyên Quang được xếp hạng như một trong những thành tích quân sự Pháp hiện đại tốt đẹp nhất.
Chúng tôi đi ngang qua một hẻm núi sâu, nơi lối vào nổi bật lên từ trên cao là một tòa nhà gỗ một tầng ngoạn mục. Ngôi nhà này được đặt tên theo một Trung Úy Diah nào đó, kẻ, trong những ngày chiến đấu, tại một đồn gần cận, nơi mà một bộ phận nhỏ linh Pháp bị bao vây bởi 40,000 kẻ ngu dốt la hét, như một người với các thói quen thường lệ, thường đến thăm viếng một địa điểm trên một thềm đất cao mỗi chiều tối. Nơi đây anh ta sẽ uống chậm rãi ly rượu ngọt buổi tối của mình, và bắn súng trong khi nhâm nhi các hớp rượu vào các quân Trung Hoa bao vây. Vì là một tay thiện xạ, các đốí thủ của anh ta đã không tán thưởng sự tận tụy thường xuyên của anh ta, và một buổi tối, họ canh chừng cho tới khi họ nhìn thấy khói súng đến từ cùng một địa điểm và khi đó họ tiến gần đến tầm bắn, với kết quả rằng khi anh ta nhô lên để nhìn những gì anh ta hạ thủ được, họ đã gửi cho anh một tràng súng. Anh ta bị sát hại và các đồng hương của anh đã tưởng nhớ anh vĩnh viễn bằng căn nhà thực tế này.
Để ngăn chặn sự buồn chán, chúng tôi được chỉ cho thấycác tảng đá mà một tàu hơi nước trước đây đã va vào và chìm xuống cách xa bờ vài thước Anh (yards) nơi dòng nước sâu chín mươi bộ Anh (feet). Nhiều cư dân Pháp với vợ của họ đã bị chết đắm cùng với nhiều dân bản xứ; cả với số tiền $80,000 chưa hề được thu hồi. Một bãi cát khác đánh dấu một địa điểm nơi mà một chiếc tàu vũ trang táp vào bờ và bị chìm đắm. Các kẻ thực dân bị hớp hồn với các câu chuyện về nỗi nguy hiểm tại các vùng đất này, và, chúng tôi không bao giờ tra hỏi họ; mặc dù chúng ta giữ lại sự phán đoán của mình.


Thành ở Tuyên Quang

Lối vào Tuyên Quang trong thực tế thật khích động, bởi có nhiều ghềnh thác và các tàu hơi nước nhỏ hơn không ngần ngại để tự xoay vòng tròn theo bán kính của chính nó, làm thót mình kinh sợ vì sự sát cận với các tảng đá. Nhưng các tàu này được lái một cách an toàn, nhờ ở kỹ năng tuyệt vời của vị thuyền trưởng bản xứ, và chúng tôi thả neo dọc trạm hẻo lánh này, dưới bóng che của một rặng núi hùng vĩ. Từ đây du khách có thể thăm viếng A-yang [?] tại biên giới Trung Hoa, bằng lối đi theo một dịch vụ bằng thuyền bản xứ, được làm chủ bởi ông Audran. Hành trình hẳn phải là khích động khi đi qua 45 ghềnh thác và cần đến hai mươi hai ngày để ngược dòng, nhưng chỉ cần hai ngày để xuôi dòng.
Trên bờ đối diện phía trên Tuyên Quang, trên đỉnh một ngọn đồi cao có thể được mô tả là một đồn của Pháp. Bản thân khu định cư là một tòa thành cổ (các tường thành và cổng ra vào được bảo vệ bởi các súng máy) và một vuờn hoa công cộng nhỏ, với bục hòa nhạc. Có nhiều nhà ở của người ngoại quốc, một nữ tu viện, các cửa hiệu và nhà ở bản xứ, và một ngôi chợ nhỏ. Một toán biệt phái của Đoàn Lính Lê Dương Ngoại Quốc Đánh Thuê nổi tiếng, với pháo binh và các binh sĩ bản xứ, đã đồn trú nơi đây. Việc trồng trọt thành công và được thực hiện trên khắp quận hạt này.
Khi trở về Việt Trì, cùng chiếc tàu hơi nước rời đi Chợ Bờ, trên sông Đà, nơi mà phong cảnh còn đẹp đẽ hơn nữa. Các chuyến đi khác có thể được thực hiện – một đến Lào Kay bằng thuyền bản xứ, thuộc Công Ty Giao Thông Miền Phù Sa, dòng nước quá nông trong hầu hết cả năm để cho phép một tàu hơi nước có thể ngược dòng. Trong vòng vài năm, các đường xe hỏa khác nhau sẽ nối liền các địa điểm nội địa đáng chú ý và quan trọng này với thủ đô, khi mà các hành trình, nếu có kém thú vị đi, sẽ lại được thực hiện một cách nhanh chóng hơn nhiều.


Đường Xá Tại Tuyên Quang

Chuyến đi hấp dẫn nhất và thoải mái nhất là cuộc thăm viếng Vịnh Hạ Long tại Hòn Gay, một trong những địa điểm quyến rũ nhất tại vùng Viễn Đông. Huế và Đà Nẵng (Tourane), trên bờ biển Trung Kỳ, cũng có thể được thăm viếng bởi các tàu hơi nước của cùng công Ty. Chúng tôi hụt mất chiếc tàu hơi nước nối chuyến, tại Việt Trì và đã di chuyển xuôi sông Hồng về Hà Nội, trên một chiếc thuyền tam bản nhỏ, rời Việt Trì lúc 2 giờ sáng và về tới Hà Nội vào 4:30 chiều cùng ngày. Bởi chuyến đi thì dài, cần phải mang lại cho người chèo thuyền của chúng tôi một chất kích thích đôi lúc, và anh ta sẵn sàng nhất để uống bia, mặc dù anh ta không hoàn toàn vô tư. Không được tắm gội hay thay quần áo trong một tuần, chúng tôi hài lòng để tiến vào một lần nữa các cánh cửa hiếu khách của Khách Sạn Métropole./-


Người Bạn Chúng Tôi – Kẻ Chèo Thuyền [Đang Uống Bia]

—–
Nguồn: Alfred Cunningham, The French In Tonkin And South China, Second Edition – Revised, Hongkong: Printed At The Office of The “Hongkong Daily Press” & London: Sampson Low, Marston & Cọ, St. Dunstan’s House, Fetter Lane, các Chương: Hải Phòng, từ trang 46-62, và Hà Nội, từ trang 63-89, Dh Hành Lên Mạn Ngược, các trang 164-188.


____
(1)Alfred Cunningham : Hội Viên Hội Á Châu Hoc Hoang Anh Anh Quốc, Chi Nhánh Trung Hoa Member China Branch, Royal Asiatic Society

nguon : gio.o.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s