CÁC TRÀO LƯU NGHỆ THUẬT (8)

Kristine stiles and Peter Selz
chuyển ngữ : Như Huy

Sau cuộc sụp đổ của đế chế thứ ba, nền văn hóa Đức chợt bỗng bơ vơ giữa những gì được gọi là Stunde Null (giờ không). Hầu hết các nghệ sỹ danh tiếng đã rời nước Đức. Những người khác thì chết trong kỷ nguyên Quốc xã. Có một người sống sót và rồi nổi bật lên trên bề mặt nghệ thuật – đó là Willi Baumeister (1889 – 1955).
Trước chiến tranh, nghệ sỹ này từng thực hiện những bức tranh theo kiểu tranh tường có liên quan tới các nhà thuần khiết họa của Pháp, song sau đó, trong thời kỳ Quốc xã, ông lại vẽ những bức tranh chữ – mặc dù có đôi nét giống với những bản viết tượng hình thời tiền sử – lại là các mẫu tự tửơng tượng có cội nguồn sâu xa từ trong tâm cảm. Trong cuốn sách bán tự truyện “Das unbekannte in de kunst “ (Cõi chưa biết trong nghệ thuật), viết trong chiến tranh và xuất bản lần đầu tiên vào năm 1947, Baumeister đã biện biệt nghệ thuật khỏi thế giới tự nhiên và nhận ra mục đích nghệ thuật chính là cuộc tìm kiếm cái bí ẩn và cõi chưa biết. Cũng giống như nghệ sỹ trẻ hơn nhiều là Cy Twombly, Baumeister đã tìm đến “Đạo” trong triết học phương Đông.


Willi Baumeister
Nach MONTARU 5b
Siebdruck auf Leinwand
57 x 49cm


Willi Baumeister
Montaru, 1953


Willi Baumeister
Reliefbild, farbig III“, 1952, Öl auf Hartfaser, 81 x 100 cm

Nước tây Ban Nha thời Phát xít của nhà độc tài Franco được coi là là một địa chỉ khá dễ thở cho các nghệ sỹ, và cho tới sau chiến tranh, một số nhóm quan trọng như Dau al cet tại Barcelona (1948) và El paso tại madrid ( 1957 ) đã được thành lập tại đây. Bất chấp sự cô lập văn hóa tồn tại trong thời thống trị của Franco, những nghệ sỹ thị giác vẫn sáng tạo những tác phẩm – dù chuẩn lượng rất khác–vẫn có những liên hệ với các mẫu thức quốc tế của kỷ nguyên họ sống. Nghệ sỹ Catalan Antonio Tàpies (sinh năm 1923) đã bắt đầu tạo nên một cách vẽ đan dệt rậm đặc vào khoảng thập niên 50 và được cho là có liên quan tới những họa sỹ vị chất liệu (matter painters) của châu Âu như Dubuffet , Fautrier và Nicolae de Stael. Tuy nhiên Tàpies cũng mang đem vào trong các bức tranh của mình những đối vật từ thế giới thực, tạo ra hiệu quả là sự gợi vọng của những liên kết mơ hồ. Vào năm 1967 – trong bài viết “I am Catalan“ ( tôi là người catalan ), Tapies đã làm rõ nhận thức của ông về hoàn cảnh tạm bợ của quê hương ông và bổn phận của nghệ sỹ là chuẩn bị “tác phẩm nền tảng – cung cấp cho thế giới của chúng ta một phương hướng mới“


Antonio Tàpies
Mountains, etching and aquatint, 56 x 76 cm

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 763×560.


Antonio Tàpies
untittled


Antoni Tàpies
“Carmi-8”


Antonio Tapies
untitled


Antonio Tapies
untitled


Antonio Tapies
untitled

Vào giai đoạn giữa thập kỷ 1950,hội họa phi hình thức (Informel) đã mở rộng dọc châu Âu cho tới tận Szecchoslovakia, Nam tư và trên hết là Balan – trong một giai đoạn có sự tự do đáng kể về tri thức và văn hóa. Một trong những lãnh đạo tinh thần của xu hướng tự do mới mẻ này là Tadeus Kantor (1915 – 1991). Sau chiến tranh , Kantor, người từng làm việc tại nhà hát trước khi trở thành họa sỹ, đã tạo ra một nhà hát thể nghiệm tại Krakov –chia sẻ rất nhiều đặc tính với cái gọi là “ nhà hát phi lý “ – (theater of Absurd) của Antonio Artaud. Tác phẩm của Kantor – trong mọi vẻ– được đặc tính hóa băng sự cách tân, liều lĩnh, vô thường, và nổi loạn. Trong một bài thơ viết vào năm 1955 – ông đã nhìn nhận hội họa như một “ hệ hữu cơ sống động“ và là “ phép chứng minh cho đời sống hướng tới sự diệt huỷ của loài người “.


Tadeus Kantor: La clase muerta


Tadeus Kantor: Paloma Paredes


Tadeus Kantor (1915 – 1991)

Tính đa xu hướng xẩy ra trong nghệ thuật của kỷ nguyên kiêm bội và hậu hiện đại (pluralist and postmodern era) sẽ được nhắc tới trong phần cuối của chương 1 này. Vào thập niên 80, sau những năm tháng thiểu hóa của chủ nghĩa tối giản và hệ tư tưởng duy ý niệm, hội họa phồn thực, biểu hiện, và duy họa pháp ( painterly) đã một lần nữa được phép trở lại. Hẳn nhiên là thị trường nghệ thuật thế giới mở rộng ghê gớm lúc đó đã đòi hỏi những tác phẩm – không phải theo kiểu Tác phẩm Dụng Đất (earth work), Nghệ Thuật Trình Diễn, và Nghệ Thuật Ý Niệm –có thể mua bán đổi chác. Ấy thế nhưng, nguyên nhân của việc này cũng bởi một số lượng lớn các nghệ sỹ xuất sắc của thế giới phương Tây lúc đó đã một lần nữa cướp lấy cây vương trượng trao lại cho hội hoạ. Dạng Hội họa động thái cố gắng – và đã thành công vào lúc đó – trong cú dấn thân mang mầu sắc hiện đại vào các trạng thái cảm xúc đang bề bộn trên mặt vải dần trở thành xu hướng chủ đạo. Không tìm được thuật ngữ nào hợp lý hơn, các nhà phê bình và sưu tập đã phải đóng cái nhãn “ tân biểu hiện “ (Neo Expressionism) vào mẫu mốt hội họa này. Chúng tôi xin dẫn ra đây hai nghệ sỹ châu Âu, một kẻ theo xu hướng trừu tượng triệt để, một kẻ luôn sử dụng các chủ đề hoặc riêng tư hoặc lịch sử, trong vai trò các ví dụ chứng minh cho sự tiếp nối này của dòng Hội Họa Động Thái

Nghệ sỹ Đan mạch Per Kirkeby (sinh năm 1938), nguyên là sinh viên địa chất, có mối quan tâm chủ yếu tới thế giới vật chất. Khởi đầu Kikerby làm việc trong vai trò một nghệ sỹ trình diễn, là thành viên của Fluxus (nghệ thuật hỗn biến), và cũng được biết tới trong vai trò một nhà làm phim thể nghiệm, một thi sỹ, tiểu luận gia và tiểu thuyết gia thành công. Trong bài viết mang tên “ Bravura” của mình, ông đã khảo luận về phẩm chất huyền ảo của các lớp thao tác vật lý khi vẽ một bức tranh và lưu ý rằng “ánh sáng của sự mơ hồ chính là một kiểu thiên đường“.


Per Kirkeby
Forest in Besen, 1970
Oil on masonite, 122x122cm


Per Kirkeby
Winter, 1999
oil on canvas
73 3/4 x 67 in.


Per Kirkeby:
o.T. / 1991 / Acryl auf Leinwand / 115 x 95cm


Mysuseter III, 1991
Per Kirkeby (Danish, born 1938)
Oil on canvas; 79 x 67 in. (200.7 x 170.2 cm)


Uden titel, 1968. Blandteknik på masonit, 122 x 122 cm

Tính mơ hồ, phái sinh từ sự hỗn nhuyễn của hiện thực và huyền thoại, cũng chính là lõi cốt cho nghệ thuật của Anselm Kiefer (sinh năm 1945). Hầu hết tranh và sách của ông đều có hàm chiếu về lịch sử, thần thoại, thế giới quan của nghệ sỹ, âm nhạc, đất đai và sông nước. Mặc dù được tạo ra trong một thời kỳ mà đề tài tranh một lần nữa được huy hoàng trở lại, tính tiến trình và vẻ động thái vẫn còn là khía cạnh tối thượng trong tác phẩm của Kiefer. Khi cần, ông sẵn sàng đưa thêm các chất liệu phi hội họa như rơm, đất sét, dây thép và chì vào tranh để tạo ra cảm gíac rúng động trên bề mặt hình ảnh, sản tạo ra các vật thể mà linh hồn của chúng nằm ở chính vẻ thực tế vật lý của chúng. Cũng giống như các họa sỹ hành động của thế hệ trước, ông đã cảm thấy rằng cả hai cấu trúc, truyền thống và tân tạo đều chẳng có gì là bền vững và rằng Người họa sỹ phải chấp nhận liều lĩnh cũng như phải đối mặt với trách nhiệm của mình.


The Milky Way, 1985-87
Emulsion paint, oil, acrylic, and shellac on canvas with
applied wires and lead, 12 1/2 x 18 1/2″


Anselm Kiefer
agora um buraco no seu lugar


Anselm Kiefer, Nuremberg, 1980


Anselm Kiefer
O buraco do poema no lugar do poema


Anselm Kiefer – Kain und Abel, 2006. 330 X 380 cm.

Nguồn:Theories and documents of Contemporary art – edited by Kristine stiles and Peter Selz – University of California Press, 1996, Berkeley, Los Angeles, London
nguon : 3d4a.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s