TRIỀU ĐÌNH, ĐẤT NƯỚC LÊ TRỊNH Ở THẾ KỶ XVII : TỪ BÀ BANH ĐẾN THẦN BẠCH MÃ

ký sự của Tạ Chí Đại Trường


Vua chúa, lương đống phên dậu, và bìm bìm

Trong tập họp Những phát hiện khảo cổ học mới năm 2003, trang 554-556, Thùy Vinh ở Viện nghiên cứu Hán Nôm cho biết từ trong văn bia tác giả tìm hiểu, thấy có nhiều nhà sư có vợ con, mang chức tước triều đình, thôn xã đã góp phần vào việc tu sửa chùa chiền.
Sự kiện này phổ biến rất nhiều vào cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, tại vùng đồng bằng sông Hồng trong đó Kinh Bắc chiếm số lượng lớn. Tác giả có “nêu một số trường hợp”. Sư có vợ nằm trên bia 1676, 1696, 1697, 1697 ố bia thứ hai ở xã Xuân Ổ, huyện Tiên Du, cho biết có hai cặp! một người giữ chức Thập lí hầu kiêm Trùm chư sư trong huyện, một người là Thập lí hầu kiêm Tri phủ sĩ (?),bia 1704, bia 1706 kê đến ba gia đình, bia 1707 có người là Trụ trì kiêm Tăng thống ti Tăng lục, viện Thượng Lâm. Tuy nhiên moi móc trong Văn khắc Hán Nôm trang 244, 277, 303, 482 thì thấy chùa Vô Vi huyện Hoài Ðức, Hà Tây có bia 1515 nhưng nhắc chuyện ông sư cùng vợ con xây cất hình như tận đời Trần! Bia 1625 quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, với ngôi chùa sư ông sư bà xây được chúa Trịnh Tráng cho phép coi là chùa tư; bia 1612 Bắc Ninh, có nhà sư giữ chức ở Tăng thống Tăng lục ti, hàm Tiến công thứ lang có vợ cả, vợ lẽ; bia 1617 ở huyện Phụ Dực, Thái Bình. Có nghĩa là chứng cớ sư có vợ đùm đề còn lan xa hơn, ngược về đầu thế kỉ XVII, đến thế kỉ XIII, XIV nữa, không phải giới hạn trong nhận định của Thùy Vinh: “Có thể cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII là thời kì cởi mở của Phật Giáo Việt Nam nên hiện tượng nhà sư có vợ không là hiện tượng bất thường trong đời sống xã hội…” Nhà nghiên cứu chỉ nên nhìn vào sự kiện, không để một quan niệm đạo lí ẩn tàng nào thôi thúc.

Trong lúc đi tìm ý nghĩa đích thực của con số 12 trong sự kiện 12 Sứ quân, chúng tôi đã giả định rằng người tăng lục triều Ðinh là nữ: Ni sư Trương Ma. (Sử Việt, đọc vài quyển, Văn Mới xb, 2004.) Một số người quen cho biết cụm từ “ma ni” có ý nghĩa quan trọng trong Phật Giáo, không thể dễ dàng cắt rời để chứng minh giới tính của người tăng lục được. Ðến lúc này chúng tôi cũng chưa tìm được lí lẽ phản bác nhưng việc gán tính nữ cho người tăng lục kia không phải chỉ là kết quả cắt rời một cụm từ. Chúng tôi vốn muốn nhìn thấy trong thời xưa, thời đại với rất nhiều chứng cớ về vai trò nổi trội của người nữ đó, tất có người nữ tu hành, không phải với vị thế bà vãi tàn tạ như ngày nay mà là vị thế công khai chia sẻ quyền bính cùng với sư trai. Sự kiện đó vốn là bình thường, chỉ gây ồn ào khi thời thế loạn lạc, quyền bính thế tục buông bỏ mà thôi. Từ Ðạo Hạnh có cha Từ Vinh là một tăng quan, còn bản thân ông qua truyền thuyết “thai sinh thác hóa” lẻn vào nhà tắm của phụ nữ, cũng chứng tỏ không có gì là xa lánh với chuyện liên quan đến dục tính. Vua Trần có cho người cung nhân đi “thử” ông đồ đệ kế nghiệp nhưng bản thân cũng mang nữ quan vào chùa, không thấy là trái với giáo lí nên mới phong là Ni sư! Ðã có một miếu nõ nường trở thành chùa Phật ngay trong thời Bắc thuộc (chùa Dâu) thì các nơi thờ tự Bà Banh mang danh hiệu chùa đầy dẫy hẳn khiến cho quan niệm “thanh tu” của Tăng đoàn Phật giáo (Sangha) ở Ðại Việt không được tôn trọng kĩ càng lắm. Những thế lực thổ hào địa phương bỏ tiền ra mua tước, xây cất đền chùa, làm chủ, công khai “bia đá đề danh” để lưu giữ tên mình cùng với vạn đại, không một chút ngượng ngùng nào hết. Từ địa phương họ đi vào quan chức trung ương, chắc sẽ càng phồn tạp hơn vào giữa thế kỉ XVIII với các vụ mua quan bán tước để củng cố quyền bính của triều đình Lê Trịnh.

Sự hoang mang về cuộc sống trần thế ở thế kỉ XVII không phải chỉ tác động đến các bà cung tần và các ông quan thị trông mong về một cõi đời vĩnh hằng về sau. Trong sự tranh chấp giữa các tập đoàn quản trị Ðông Kinh, đến lúc này mọi dấu vết chủng tộc (Mường, Tày Thái Nùng, trung châu), địa phương (gốc Ðông Kinh và Thanh Nghệ), tính cách chính danh phải bám để vượt lên trên điều tiếng tập đoàn phe phái (vương triều và phủ Chúa) tất cả đã trở nên mù mờ, được lập lờ sử dụng, lợi dụng theo tính nhất thời của biến động. Hồ Sĩ Dương nêu rõ chuyện Trịnh Tùng giết vua Lê trong lúc chính sử phớt qua. Bia những người xứ Thanh thời Trung hưng còn ghi xác định lãnh thổ “Tây Việt” để đối lại với Ðông Việt của Mạc. Tổng thái giám Tày Nùng Hoàng Công Phụ thất bại trong sự liên kết với một phe trung châu (Nguyễn Tuyển) bên ngoài mà không tính đến phe trung châu ở chính phe ngoại nhà Chúa. Rồi Lê Quý Ðôn theo Trịnh ép vua Lê nghẹt thở. Lại còn dư đảng họ Mạc ngấm ngầm phía biển nữa… Giữa tình thế tranh chấp loạn xạ đó có những người nhát gan hơn thì lại đem ước vọng giấu kín trong sách vở, giấu khuất lấp trên bia đá, mộ táng, trong xóm làng, hi vọng không ai phác giác thì có thể lưu truyền đến muôn đời con cháu mai sau! Là chính bản thân hành động, hay là dấu vết của người cùng khu vực, các sự kiện này cũng chứng tỏ một tâm tính háo danh luồn lách của thời đại còn dai dẳng đến ngày nay.

Gia tộc Ngô Thì Nhậm nhân đổi đời, có người làm quan trong triều đại mới (Tây Sơn) liền phong “vương” vượt cấp cho Ngô Thì Sĩ (theo nguyên tắc thì chỉ mới là tước “công”.) Tuy nhiên, “miếu” xã Ứng Mộ, huyện Hạ Hồng, Hải Dương thì lại lập bia 1691 phong Ðại vương có ông Tiến sĩ Trùm trưởng “bản xã”. Và đến bia từ đường thờ Nguyễn Quý Ðức, Binh bộ thượng thư, 1736 ở huyện Từ Liêm Hà Ðông, nghĩa là sát Kinh thành rõ rệt mà được khắc là “Thiên mỗ Ðại Vương”! (Văn khắc… tr. 618, 658, 707.) Ông này mất 16 năm trước khi lập bia nên tránh khỏi tai vạ khi còn phải tranh chấp giữa triều đường của Nguyễn Công Hãng, bị giết (1732) vì người ta lôi ra tội để mả cao quý cho gia đình, hòng có con cháu làm vua! (Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nhân vật chí, Nxb. Khoa Học Xã Hội 1992, tr. 282, 284.) Chỉ có đám làng xã biết phận, khôn ngoan luồn lách, cứ tự phong cho thành hoàng làng mình là Ðại Vương, Công chúa mà vẫn giữ sắc thần Phủ quân, Trung, Thượng đẳng thần, Phu nhân… của vua ban, tránh khỏi bị quyền bính trên cao ra oai sấm sét!

Nhà Mạc hồi tố để gặp Bà Banh và thần Bạch Mã

Chúng ta đã gặp một trong ba chùa Bà Ðanh có tên đích danh, nằm ở vùng biển, không có dấu vết tù binh Chàm như ở hai nơi kia. Chùa này rõ ràng là do tạo lập của dân chúng vùng biển với ảnh hưởng phía Nam qua tin tưởng về biển khơi, nghĩa là có phần qua mậu dịch.

Mạc Ðăng Dung, Thái Tổ mở đầu triều Mạc của Ðại Việt, triều đại một thời bị coi là “phụ”, không có chính danh, đúng ra không phải xuất thân từ nhà tầm thường mà là của một vọng tộc, một tập đoàn dân tộc hiện diện trong sử Việt có lẽ còn lâu hơn cả những triều đại thường được ca tụng là xưa cũ nhất. Toàn thư (bản dịch tập III, tr. 42-43) lấy gốc từ trạng nguyên Mạc Ðĩnh Chi của Trần nhưng cũng cho ta thấy có thể kéo đến ông Thái sư của Lí hồi thế kỉ XI đã “ve” bà Thái hậu mà không ai dám xử. Dòng họ đó theo thời gian dời đổi xuôi triền lưu vực Thái Bình mà từ Chí Linh đến xã Cổ Trai phía biển. Trên đường đi cũng có những nhân vật nổi bật như Mạc Thúy, ông Cao tổ của Dung, đã phục vụ nhà Minh, trong họ hẳn có người về với Lê Lợi mà họ Lê phải ra lệnh khoan hồng, khác với trường hợp những cựu thù đầu Minh khác như Phan Liêu, Lương Nhữ Hốt… Và đến 1470 thì có bia của Mạc Ngọc Ỷ ở Dị Nậu, Thạch Thất (bên kia lưu vực so với làng gốc!), con gái thứ hai của Trung Thành Vương. (Văn khắc… tr. 255, 598. Có chút rắc rối về thời gian ghi nhận của các bia, nhưng bia 1592 nói rõ “Thái Quý [úy?] Tây Quốc công Thượng trụ quốc [nhà Mạc] đã trí sĩ, tước Trung Thành Tây Kì Vương cùng con gái thứ hai… hiệu Ðức An…” có vẻ chứng tỏ xứ Thạch Thất “Tây Kì” là đất phong cho ông bà con này.) Thế rồi khi mất quyền hành ở trung châu, họ Mạc nương tựa nhà Thanh xây dựng một tiểu triều đình ở Cao Bằng làm Việt hóa người Tày và Tày hóa chính mình. Một bộ phận có lẽ đã tiến sang đất Trung Quốc trên các hải đảo ở Quảng Tây ngày nay (Vạn Vĩ, Ô Ðầu, Sơn Tâm thuộc huyện Giang Bình) và một số nhỏ ở trên đất liền của tỉnh Quảng Ðông. Thống kê 1990 cho biết tổng số dân là 18.915 người. Thư tịch Trung Quốc cho biết họ sang vùng đó khoảng những năm 1500 nhưng sự kiện họ mới đổi tên dân tộc (đối với người Hán Trung Quốc) sau 1958 là Kinh còn trước kia thì gọi là Việt, chứng tỏ họ đã xuất phát từ thời kì chia Ðông, Tây Việt của Mạc và Trịnh Lê. (Paul Hattaway, Operation China, Piquant 2000, “Jing”, tr. 232 hình cô gái nhỏ, tr. 243 hình người đàn ông đánh cá, trên bờ biển buổi chiều. Cũng xem Lê Văn Lân, “Ba làng Việt tộc trong nội địa biên thùy Trung Quốc” Nhật báo Người Việt [California] 4-3-2005.)

Vậy thì họ Mạc gần biển, đã thờ Bà Ðanh/Banh theo với thói tục dân miền biển. Nhìn xét những dấu vết còn lại ngày nay ở phía Nam (Khánh Hòa, Bình Thuận) thì tục thờ Lỗ Lường, Ðĩ Dàng tuy vẫn còn cây gậy gỗ đá với các lỗ hang đất đá nhưng đã trộn lẫn vào hình ảnh bao quát của Thiên Y A Na với các tên Chúa Xứ Long Thần, Càn Long Chúa Xứ Nương Nương… Ngôi chùa còn tên mà bà vợ Mạc Ðăng Dung góp phần tu sửa với 26 vương công quận chúa Mạc hẳn là có lối thờ tương tự để bảo vệ dân đi biển, nền tảng sung túc của triều đại Mạc. Chúng ta trở lại với những điều đã nói. Bà Thái hoàng Thái hậu và các Thái vương, Công chúa cũng xây thêm một chùa Thiên Phúc năm 1562. Chứng cớ bia 1538 ở chùa Thiên Phúc, Hà Tây với bà Thái chiêu nghi (vợ lẽ) của cha vua đương triều tên Nguyễn Thị Ngọc Phương, “Linh Phúc tự bi” ở Hà Tây 1539, bia chùa Viên Quang, Hải Dương tạo năm 1579 của Mạc, mà có phần đóng góp của bà Thái hoàng Thái hậu Mạc và (về sau) của Cung tần của Thái Quốc công Triết vương Trịnh Tùng… (Văn khắc… tr. 229, 260, 393, 394,455.) Xây cất dồn dập thờ Bà Banh, bởi vì không chỉ có đánh cá mà là buôn bán trên biển. Bởi vì không phải chỉ với danh hiệu trống trơn khi Mạc tự xưng là Ðông Việt. Ô Châu cận lục, bản địa chí vùng Hóa Châu độc nhất cho kiến thức về vùng này (1555) là của một ông nghè triều Mạc, ở đó có dấu vết cung phi, tướng lãnh Mạc. Mạc từng mang thủy quân quấy rối Hóa Châu của Nguyễn Hoàng, rồi để lại cung phi, tướng lãnh cho ông quận hầu lưu vong này. Và thế là đất Bắc lại phồn thịnh thêm một hình tượng thần thánh khác đến từ phía Nam: thần Bạch Mã Balaha.

Con ngựa Balaha cứu người vượt biển (Tạ Chí Ðại Trường, Thần, người và đất Việt [bản mới], Văn Học xb. 2000, tr. 244-252) với thời các ông chủ Lí Trần còn là chủ ruộng nên bị chắt lọc chỉ còn thoáng muộn hồi cuối Trần qua con ngựa Phù Ðổng đưa tướng cứu nước ố cứu vua (Thơ văn Lí Trần, tập III, 1978, trang 365: Tạ Thiên Hoàn cuối thế kỉ XIV, trong bài “Quá Phù Ðổng độ”: Thiết mã tê hàn vạn lí thu… / Ngựa sắt hí rộn ràng vạn dặm…) Chợ Ðông từ thời Bắc thuộc, đến Trần vẫn còn là Bụng Rồng / Long Ðỗ của quan niệm phong thủy. Hiếm thấy có bà Thái hậu như bà họ Vũ của Mạc lo việc làm cầu, quán cho chợ xã Cẩm Khê (Văn khắc… tr. 442, bia 1572). Với vua chúa thì tính chất cứu nạn biển khơi của con ngựa Balaha núp dưới hình tượng một vị Phật cao cấp: Quan Âm, cho nên người ta thấy hình tượng Quan Âm xuất hiện nhiều trong thời Mạc. Ðến như đúc tượng Tam Giáo mà còn đèo thêm tượng Diệu Thiện (Quan Âm)! Ðó là bia chùa xã Cao Dương, Thái Bình không có năm nhưng do ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và có tên Khiêm Thái Vương Hoàng mị, chị dâu của Mạc Kinh Ðiển (Văn khắc… tr. 484). Bởi vậy mới phát sinh muộn mà đặc biệt Việt Nam, tượng Mã Ðầu Quan Âm ở Hà Tây, ở đó bà Quan Âm đội mũ kiểu nhọn đầu không có ba mặt hình ngựa như quy định trong sách Trung Quốc mà riêng biệt một tay để trước bụng, một tay ôm con ngựa trắng, đầu ngựa tì vào vai người, ngực ngựa có yếm, chỉ thấy một chân. (Những phát hiện… 2003, tr. 428). Có thế mới thấy bia trùng tu chùa Cảm Ân, huyện Kim Thi, Hải Hưng của vùng Mạc, năm 1622 nhắc sự khởi xướng năm 1619 của bà Chánh phủ (Chúa) Nội cung là Vũ Thị Ngọc Lương, trong đó ghi nhiều tên khác của chùa mà có tên Bạch Mã! Không xa tiếp theo, bia 1634 khắc công đức bà Ðệ nhị cung tần phủ chúa năm 1632, giúp nhà sư chùa mua gỗ tốt dựng “miếu Bạch Mã Ðại vương ở chợ Ða Tốn”, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cho nên có thể nói các bia chuyển đền Long Ðỗ thành Bạch Mã thời Cảnh Hưng (1778, 1781) thật quá muộn màng. (Văn khắc… tr. 270, 414, 605, 606). Người nào không tin sự liên hệ giữa cái tên “bạch mã” trống trơn với con ngựa Balaha thì hãy đọc bản văn phong tặng khắc trên bảng gỗ ở đền xã Võ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An, nói là thờ tướng Phan Ðà có công tích chống Minh: “Ðô Thiên Ðại Ðế Long Vương, trợ thuận bảo quốc bảo dân… uyên tiền nhuận trạch…” (Vị… Long Vương giúp thuận [gió] che chở đất nước dân chúng… [làm cho] trước là vực sâu sau là đầm lặng…) (Những phát hiện… năm 2003, tr. 476-477, 641-642.) Cho nên không lấy làm lạ là một nơi làm gốm danh tiếng như Bát Tràng tuy ở sâu trong đất liền, nhưng vì ít ra cũng phải giao thiệp buôn bán sản phẩm có tầm xa nên một trong 5 “nóc” (xóm), nóc Ðoài, phải thờ thần Bạch Mã (Làng cổ truyền Việt Nam, tr. 107.) Không phải ngẫu nhiên mà dấu tích các đình làng xưa nhất còn lại là thuộc đời Mạc: Ðó chính là vì sự phát triển thương mại có tầm xa đã đem lại sung túc cho triều đại này so với thời Lê sơ và làm cơ sở thăng tiến cho thế kỉ XVII tiếp theo với các dấu vết xây cất những nơi thờ tự tương đối bền vững còn lại đến ngày nay.

Tuy nhiên nhìn chung thì nơi thờ Bạch Mã rõ ràng là lưa thưa hơn đền Bà Banh. Những dấu vết chăm sóc các chùa Bà Banh của hậu phi vương công Mạc dù có thoáng một ý thức chuyển tính phồn thực trong nông nghiệp qua lợi nhuận thương nghiệp nhưng không làm nổi bật được sinh hoạt mới, giống như tổ chức chính trị xã hội của Lê Thánh Tông vẫn không suy suyển trong thời Mạc vậy. Dấu vết ít oi của đền Bạch Mã trong thế kỉ XVII (rồi về sau) có vẻ như mâu thuẫn với tình trạng xâm nhập của các công ti thương mại Tây Phương mà ngày nay người ta đưa ra bằng chứng thật nhiều với những sổ sách của họ và nhấn mạnh sự hiện diện của Phố Hiến chẳng hạn. Nhưng điều này vẫn không thể phủ nhận được các bằng chứng của địa phương Việt kia. Nó chỉ chứng tỏ rằng sự giao thương có sôi nổi một giai đoạn nhưng chủ động là người Tây Phương với các trung gian Ðông Á Trung Hoa, Nhật Bản… chứ không làm thay đổi các tầng lớp dân chúng Ðàng Ngoài. Họ chỉ là người gom hàng lẻ ố tuy rằng tính chất tom góp này cũng tạo ra được một số người giàu hơn chút ít so với chung quanh, có hơn một ít của cải để mua tước, bỏ tiền tu sửa chùa chiền miếu mạo mà lưu danh với đời. Họ vẫn không ra biển khơi, có thể không biết đến biển khơi để phải thờ thần Bạch Mã. Một chút sóng biển đã có bà Quan Âm độ trì rồi. Ðó có thể là trường hợp của đám Các-lái Thanh Nghệ có một người chen lọt được vào lịch sử: Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhưng những người này vẫn hành động không như một tập thể độc lập mà cứ nhờ cậy quan quyền đang đóng vai trò trên trước của đất thang mộc ở Ðông Kinh. Lại cũng có thể lấy trường hợp Nguyễn Hữu Chỉnh làm tiêu biểu. Tính cách không độc lập của tầng lớp Các lái khiến cho con ngựa Bahala cứu vua của chuyện Tiền thân, thu nhỏ trở thành con ngựa cứu chủ của Thánh Lưỡng, con ngựa trung thành đưa thân xác chủ về lại cố hương để yên nghỉ ngàn đời. Chuyển ra Bắc nó là của thần Ðoàn Thượng mà ở đất Thanh thì nó theo Thánh Lưỡng vào hàng trăm ngôi đền, vươn cả vào trong gia tộc ông Lê Cốc / Ngọc trên đất Thanh có gốc tận thời Tùy Ðường! (Ðào Duy Anh, Hồi kí Ðào Duy Anh [Nhớ nghĩ chiều hôm], Nxb. Trẻ 2000, tr.118-121.)

Các dấu vết bản xứ, địa phương cũ kĩ rõ là còn mang giá trị chứng minh đích thực cho tính bảo thủ truyền thống chưa có dịp bị phá vỡ trước các trào lưu mới.■

Tháng Chín 2005
e-thuvien.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s