CHIM HỌA MI CỦA XỨ SỞ SƯƠNG MÙ

Phương Khanh

“Tonto el que no entienda… Luna quieres ser madre/y no encuentras querer/que te haga mujer/dime luna de plata/qué pretendes hacer/con un niío de piel/Hijo de la Luna” (Chỉ có kẻ khờ mới không hiểu được… Trăng ơi ngươi muốn có một mụn con nhưng ngươi không thể tìm thấy một tình yêu để trở thành người mẹ. Ngươi nói đi, ngươi muốn gì, ở một đứa trẻ bằng thịt bằng xương? Đứa con của mặt trăng!).

Một bài hát dân ca Tây Ban Nha bỗng vút lên giữa đêm vắng nhờ giọng cao vút nốt mi của cung đô trưởng soprano thênh thang trên từng cung bậc, khi réo rắt, khi du dương của dàn nhạc giao hưởng chơi theo phong cách pop.
Truyền thuyết kể rằng có một người đàn bà du mục sinh ra một đứa con trắng như sứ, người ta bảo rằng đó là đứa con của Mặt trăng. Vì không có tình yêu nên bà ta đã gửi con cho một bà mẹ 

người da màu khốn khổ. Chồng bà nghi ngờ tiết hạnh nên đã giết đứa con, mang bỏ trong rừng. Hằng đêm Mặt trăng ngồi trông chừng đứa con yêu dấu của mình… Hijo de la luna (Đứa con của Mặt trăng) thể hiện rõ rệt nhất khuynh hướng fusion (lai trộn) trong âm nhạc hiện đại của Sarah Brightman, cô gái người Anh với đôi mắt to tròn và giọng ca như chim họa mi.

Thêm Anytime, Anywhere – bài hát dựa trên Adagio cung sol thứ của Tomaso Albinoni là một ví dụ khác về sự lai trộn. Bắt đầu bằng giọng opera không lẫn, rồi bất ngờ chuyển sang giọng pop và kết thúc bằng giọng opera, bài hát kể một câu chuyện về tình yêu và nỗi nhung nhớ trên chất liệu giao hưởng thính phòng ban đầu dành cho đàn dây và đàn hơi, nay được “mix” lại bằng dàn symphony điện tử. Strade son’ cambiate/Faccie son’ diverse/Era la mia città/Non la conosco più/La ora io sono solo un’ estranea/Senza patria. (Đường đã thay đổi/Mặt người cũng khác xưa/Thành phố của tôi/Giờ sao xa lạ quá/ Tôi chỉ là một người lữ hành không có nổi một quê hương).
Giọng opera của Sarah vuốt ve, nuốt nhả từng con chữ để cảm xúc cuộn dâng trong thang bậc biểu cảm của tiếng Ý rồi bất ngờ chuyển sang giọng pop, bằng thứ tiếng Anh đơn giản, thật dễ hiểu: “I remember you were there/Any emotion/ Any true devotion/ Anytime, anythere” (Em nhớ anh đã từng ở nơi này/Từng xúc cảm/Từng sự dâng hiến trọn vẹn/Bất kỳ đâu/Bất kỳ lúc nào).

Classical crossover hay là thể loại nhạc cổ điển được phối theo kiểu hiện đại, gần gũi, dễ nghe, đang là một xu hướng ngày càng phát triển mà Sarah Brightman là đại diện tiêu biểu ở phân loại vocal (nhạc có lời) không chỉ ở nước Anh, mà còn trên toàn thế giới.
Dùng nhạc cụ điện tử trong những bài cổ điển, hát dân ca bằng cách “xử lý bác học” của opera, linh hoạt chuyển giọng giữa opera và pop, Sarah Brightman đã thổi một luồng sinh khí mới vào những tác phẩm cổ điển, dân gian, biến chúng thành những bài hit thật sự trên các bảng xếp hạng lớn thế giới và len lỏi vào hàng triệu iPod của người ghiền nhạc trên thế giới nhờ những âm điệu, ca từ dễ nghe, dễ nhớ.

Chim hoa mi cua xu so suong mu

Người yêu nhạc hẳn đã quen thuộc với ba album nổi tiếng nhất của cô là Eden (1998), La Luna (2000) và Harem (2003). Những thính giả của thể loại opera cổ điển dễ dàng đón nhận và yêu thích phiên bản điện tử các trích đoạn opera của nhà soạn nhạc Puccini (1858-1924, nổi tiếng với Madam Butterfly) như những đoản khúc của Harem, Eden và Timeless. Những người yêu chuộng nhạc rock hoặc nhạc pop đương thời đều ngạc nhiên và thích thú khi nghe phiên bản opera của Dust in the Wind (trong Eden) của ban nhạc rock Kansas, Here with Me (trong La Luna) của Dido.
Có lẽ âm nhạc của Sarah Brightman là thứ duy nhất vừa đồng thời đứng nhất trên bảng xếp hạng Billboard về thể loại cổ điển và thể loại nhạc dance (nhạc nhảy, nhạc điện tử). Có âm vực rộng ba quãng tám (octave) và giọng soprano trong như suối róc rách dưới khe, Brightman đã được học luyện âm với những người thầy xuất sắc nhất thế giới như Elizabeth Hawes – Hiệu trưởng trường nhạc danh giá Trinity Music ở London, Ellen Faul ở Viện Nhạc kịch Juilliard nổi tiếng New York và hiện tại là David Romano – người hát solo nhạc kịch hay nhất hiện nay. Nhưng ít ai biết cô đã có một khởi đầu khá đặc biệt, là vũ công của một đoàn múa hiện đại.
Được học ballet từ năm ba tuổi, cô bé Brightman đã sớm thể hiện thiên hướng nghệ thuật của mình và được gửi vào trường nghệ thuật, rồi phát triển ở một nhóm múa thập niên 1970 ở London mà những bài hát đầu tiên lại là nhạc… disco! Năm 1981, cô tham gia ca kịch và lọt vào mắt xanh của Andrew Lloyd Webber – nhà soạn nhạc ca kịch được bầu chọn là xuất sắc nhất thế kỷ XX, được ông viết cho hàng loạt vở nhạc kịch dành riêng cho chất giọng của mình.
Sau đó, vai chính trong Cats (Những con mèo), The Phantom of the opera (Con ma trong nhà hát) đã nâng cô thành một nữ hoàng nhạc kịch nổi tiếng nhất thập niên 1980, với những chuyến lưu diễn thế giới được hậu thuẫn bởi danh tiếng và sức ảnh hưởng của nhà soạn nhạc Webber, người trở thành chồng của cô vào năm 1984 (và ly dị vào năm 1990). Thập niên 1990 chứng kiến sự nghiệp solo của Sarah được hình thành và củng cố, với sự cộng tác của nhóm Engima – một nhóm nhạc Thụy Điển chuyên về thể loại New Wave, sử dụng rất nhiều nhạc cụ điện tử theo lối fusion, hòa trộn nhạc cổ điển, pop và rock thành những âm giai hết sức thu hút.

Càng về sau, tài năng âm nhạc của Sarah Brightman càng chín muồi. Được cộng tác với những nghệ sĩ lớn, Sarah thể hiện rất nhiều ca khúc trích đoạn từ opera hoặc đặt lời dựa trên phần nhạc giao hưởng hay là các bài rock ballad, pop hiện đại, nhưng thể hiện theo một phong cách mà chỉ riêng cô mới có được. Có thể nói cùng với Charlotte Church, một chim họa mi opera nhỏ tuổi nữa và nhóm nhạc neo-classical (tân cổ điển) Bond, Sarah Brightman được coi là những vị cứu tinh của thị trường kinh doanh nhạc Ăng-lê hiện nay, trong lúc nền nhạc Mỹ ngày càng chiếm lĩnh thế giới.
Cô đã nhận được 150 đĩa vàng và đĩa bạch kim tại 35 nước thế giới và có lẽ là nghệ sĩ duy nhất được ưu ái bởi hai nhân vật không thể khác biệt hơn về gu thưởng thức nhạc: Andrea Bocelli giọng tenor (nam trung) nổi tiếng đương đại và… các fan của PlayStation 2 phiên bản độc quyền cho thị trường Nhật Bản. Đĩa đơn Time to Say Goodbye của cô song ca với Bocelli đã được bán hơn 3 triệu bản chỉ riêng ở Đức và 5 triệu bản trên toàn thế giới.
Đó là một thành công khó tưởng tượng nổi đối với một tác phẩm opera duet vốn được cho là khó nghe. Tengai Makyoo 3: Namida, nhạc nền cho trò chơi game cùng tên của PlayStation 2 liên tục được yêu cầu trên các kênh tải nhạc quốc tế.
Hòa trộn những tinh túy của nhiều dòng nhạc, kết hợp những thứ tưởng chừng như không kết hợp được, nhạc của Sarah Brightman làm mềm mại và gần gũi hơn với mọi người loại nhạc bác học và dẫn dắt lịch sử pop rock đương thời vào một cuộc giao lưu bất tận của phong cách và cảm hứng sáng tác.
vietbao.vn 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s