TỪ PHÍA SANCHO PANZA

Claudio Magris (1)
chuyển ngữ : Vũ Ngọc Thăng

Suy tư đứng sang phía Sancho Panza. Vì tình yêu cái cụ thể và tình yêu cuộc sống, triết học phải chững lại, trước hố cách biệt giữa lý tưởng và sự kiện, trước lẽ tương ứng bất thành giữa sự phổ quát được quy định bằng ý niệm và sự khốn khó của thực tiễn phủ nhận cái ý niệm ấy.

Suy tư không đồng nhất với Quyển Sách, vốn bắt chiếc cối-xay-gió phải là người khổng lồ và cái chậu-thợ-cạo phải là chiếc mũ-chiến đầy huyền thoại anh hùng. Suy tư tháo dỡ và trút bỏ trật tự mà Quyển Sách – sự phổ quát – muốn áp đặt lên cái tính đa bội bất kham của thế gian, từ cao xa đến xoàng xĩnh nhất. Triết học nhìn thực tại từ tầm cao yên con lừa của Sancho. Triết học chú tâm đến những chi tiết ít ỏi và bình thường mà nhà quý tộc tài ba không thể nhận ra, bởi vì chồng chất bên trên chúng, là những hình ảnh cao sang và những tôn ti trang trọng của các thứ sách hiệp sĩ.

Nếu Lukács và Bloch, ở những thập niên đầu thế kỷ 20, nhìn thấy trong Don Quixote một hình tượng điển hình của cá thể hiện đại đang lang thang trong một thế giới bị ý nghĩa và giá trị bỏ rơi, thì Adorno chỉ ra việc đứng sang phía Sancho Panza, để cứu vớt cái đặc thù và cái phần mảnh, tức là cuộc đời, ra khỏi bất cứ một tổng thể hoành tráng và giả tạo nào mang kỳ vọng siêu vượt cái trực tiếp và phụ thuộc cái trực tiếp vào một ý nghĩa cao siêu. Ðiều xảy đến với triết gia đương đại thì cũng xảy ra với Cervantes: ông phải ý thức rằng, dù miễn cưỡng, các hệ thống khái niệm và ý hệ lớn lao, những thứ đã xếp dọn sự hỗn độn của thực tiễn vào trong một hệ thống hòa điệu và tràn đầy ý nghĩa, không còn chủ trì nữa. Cũng thế, vào thời của hình tượng hiệp sĩ Amadigis xứ Gaula và những tiểu thuyết hiệp sĩ khác, các hệ thống khái niệm và ý hệ lớn lao không còn có thể chuyển tải và quý tộc hóa tính cách đa bội gió bụi của thế gian, vốn lảng xa chúng ở mọi chỗ.

Sancho cảnh tỉnh sự giả cách của các giá trị, để chúng thấu sáng các đối tượng và sự kiện thường nhật, vàng phải rực lên từ cái chậu-thợ-cạo. Viễn cảnh của Sancho, tuy thế, không phủ nhận mà hòa nhập với viễn cảnh của nhà quý tộc: Adorno khởi sự từ cái đặc thù, không để bị lóa mắt bởi cái phổ quát đang tan biến, thế nhưng, ông cũng tạt sang cái phổ quát, không để nó bị hạ gục bởi những đòn phủ nhận tới tấp giáng lên từ cái đặc thù. Lẫn chiếc cối-xay-gió với người khổng lồ là bị lừa, song tin vào người khổng lồ hoặc vào nhu cầu về giá trị – vốn chứng thực cuộc sống – thì không bị lừa. Lòng chung thủy với sự vật – để không bị quáng mắt trước bất kỳ một sự lý tưởng hóa nào – là người gác cổng đích thực cho niềm không-tưởng-quixote, để thực sự và một cách không khoa trương hoa mỹ, chuộc lại sự vật từ tính cách vô giác của chúng. Khi Don Quixote, đang đối diện với cái chết, từ bỏ niềm tin vào các tay hiệp sĩ giang hồ, thì Sancho khích lệ chàng khởi sự lên đường, lại đi tìm Dulcinea.

Ðối với Adorno, chẳng còn hiện hữu tổng thể suy tư nào có thể bao hàm thực tiễn trong một sự Toàn-Nhất chan chứa ý nghĩa, mà chỉ còn hiện hữu những phần mảnh rải rác và phân rã – trong những tính cách đặc thù của chúng – liên tục được gửi trả về cái tổng thể, mà về nó, người ta cần phải tố giác sự vắng mặt, nhưng lại phải chứng thực tính cấp bách của nó. Suy tư, để không bị khô cứng trong dạng công thức hóa cằn cỗi về khái niệm, không được quên tất cả những gì mà nó đã phải cởi bỏ để trở thành suy tư – tức là, nhu cầu, ước vọng, và tính cấp thiết vật lý.

Suy tư của Adorno – đắm trong sự vật, nhưng không mang ảo tưởng về tính trực tiếp của chúng – thể hiện qua hình thái gián tiếp và trung gian của một nhà hiền triết, để trình bày dòng diễn ngôn uẩn khúc của mình về thế giới, không chọn phương thức từ một thực tại kỳ vọng phải là nguyên sinh, mà chọn phương thức từ một biểu trưng đã có về thực tại ấy, từ một tác phẩm nghệ thuật hoặc triết học. Nhà hiền triết, với quy trình nhu uyển và xúc tu của mình, là một hình thái trung gian thượng thặng, không suy ngẫm về bản chất – vốn là điều, trong tính cách căn nguyên đích thực của nó, một cá thể đương đại không có phương thức nào để đạt tới – mà suy ngẫm về những phản ánh mà lịch sử và văn hóa đã đan bện quanh nó, cuộn bọc nó, như trong một tổ kén. Nhà hiền triết đón nhận, luôn luôn tạm thời, chân lý của một thế gian, trong đó chẳng còn gì độc đáo, trực tiếp nữa, nhưng trong đó, tất cả đều là đối tượng của một cuộc hòa giải vô tận.

Trong nhiều tác phẩm của Adorno, nhà hiền triết của ông thường tìm hỏi văn học, đặc biệt là dòng văn học tiền phong, tại sao nó là tiếng nói của cái đặc thù cảm biết được và của cái cá thể, nổi loạn trước việc bị bắt nhốt trong một hệ khái niệm. Tôn dương tính phi bản sắc của suy tư và của sự vật, Adorno phản đối bất cứ một nguyên lý bản sắc nào, điều mà theo ông, dường như đã đánh đồng sự khác biệt và sự cá biệt bằng cuộc thống lĩnh của một quy trình hợp lý hóa ác nghiệt. Trong cái thế giới hoàn toàn được quản lý, khi tất cả được xác định để đặt tất cả dưới sự kiểm soát, thì sự vật và cái đặc thù – để lánh xa sự tha hóa và lánh xa quyền lực – không còn cách nào khác là phải nổi dậy chống lại khái niệm phổ quát giả tạo, muốn thu gộp chúng, quy phục chúng, và không có cách nào khác là tự rút vào cái huyền ẩn mịt mùng và sự cách li, như trong những câu chuyện của Kafka.

Nghệ thuật hiện đại đích thực thì mang tính phủ định, nó cho thấy điều mà con người không là, không thể là, cũng như không phải là, nếu họ không muốn bị hợp nhất với bộ máy tiêu thụ văn hóa. Nghệ thuật phải nhắc nhớ rằng, lời hứa hẹn hạnh phúc đã bị phản bội và cái cá thể không thể hòa giải với tình cảnh không mang tính người của cuộc sinh tồn của nó. Nghệ thuật tượng trưng cho việc không thể thực hiện được cuộc sống đích thực trong cuộc sống trấn át giả tạo, những cắt xẻo làm ung thối diện mạo cuộc sống, cái tính cách hoán thế và dửng dưng quy trong cái cá thể.

Adorno, một cách thần tình, vạch ra hai thái cực phản đề và bổ sung của tính tùy tạo hiện đại, cái qui trình duy lý hóa tha hóa tất cả và lòng tôn sùng cái chính cống, kiểu dối trá như việc quảng cáo du lịch về một thiên nhiên không bị hư hoại bởi kỹ nghệ du lịch. Song ông cũng thường ngụ trong sự dao động này một cách quá thuận tiện, hoán đổi cái tính cách bí giải lý thú của các phản đề với sự vượt qua chúng và lạm dụng phép biện chứng phủ định. Và thế là, phép biện chứng phủ định trở thành một cơ chế tu từ, một hình thái thêm bớt nội dung tùy thích, một cái giường Procuste linh hoạt ngắn dài ngụy tạo, ép bất cứ một thực tại nào cũng phải vừa với cái kích thước của nó.

Nhà văn tiểu luận lỗi lạc, đặc biệt khi thu thập lịch sử của cái tôi cá thể trong thơ ca trữ tình và tính đan kết giữa xã hội và bản chất đã được cấu thành của cái tôi cá thể ấy, Adorno biến đổi sự dao động thường trực giữa các đối cực của ông thành một công thức dự đoán được và mang đặc trưng lặp đi lặp lại, điều mà ông bảo vệ một cách nẩy lửa khi chế giễu – một cách tiên nghiệm và với những nhấn nhá có tính cách tiên đoán – mọi phản bác có thể có. Về những tác giả và những quyển sách mà ông không đề cập thì dường như chúng ta đã biết những suy nghĩ và phát biểu của ông; tình trạng này vi phạm thi pháp của ông, vốn đòi hỏi nghệ thuật phải bác bỏ bất kì một sự chờ đợi nào để tránh xa qui trình bị hàng hóa hóa.

Adorno không biết đứng sang phía Sancho với kiểu tình yêu của Benjamin đối với cái đa bội hoặc với kiểu tình yêu phức tạp hơn nữa của Bloch, có khả năng tan biến vào cái tối thiểu, cái dời xa, trong lòng một dòng sông lớn. Như Ulysses chịu bị trói trước các nàng Tiên cá, Adorno giữ thái độ thận trọng tiên nghiệm trước hiểm họa tử vong của nghệ thuật và của suy tư hiện đại; ông không thể để mình bị đắm. Quyến rũ bởi tính hiệu quả của những tay managers – những kẻ mà ông cũng lột trần và khéo léo kiên quyết phê phán – ông có cơ sa vào thái độ đồng lõa, khi hoán đổi sự phủ định với sự tố giác và sự vượt qua chính cái sự tố giác ấy. Ngay cả trong cuộc sống giả tạo cũng có cuộc sống thực, chính Adorno đã chỉ ra điều ấy: chẩn đoán của ông về sự giả tạo át trội cho phép người ta sống trong một phương thức ít giả tạo hơn, nhờ ý thức như thế và với điều kiện là người ta phải hiểu rằng, sự giả tạo ẩn núp trong mỗi cá thể và người ta phải liên tục điều tiết nó ở khắp mọi nơi, trong thực tại ngoại cảnh cũng như trong thực tại nội tâm.

Giới hạn của Adorno là một sự chìu lòng thầm kín đối với chính cái sự giả tạo mà ông đã lột trần và chưa trở thành cái tính cách chung thủy tỉnh táo của ông đối với chủ thể cá nhân, bị oán trách bởi cái luồng văn hóa thô sơ, vốn mơ màng việc cái ngã được hòa tan trong dòng chảy của bản năng và của dục năng mơ hồ.

Ðằng sau nhà văn tiểu luận xuất chúng về sự phủ định, có thể có một người, nôn nao và được quyến rũ, muốn thành một nghệ sĩ lớn, và muốn – qua các Ca khúc Nghệ thuật rất ý tứ soạn ra của mình – thi tài với các ca khúc của Schönberg, rồi nếu có thể, thì thi tài với các ca khúc của Schubert. Một bậc thầy, lúc nào cũng nhắc nhở rằng mọi thực tại, ngay cả cái bản chất, đều được xác định bởi lịch sử và xã hội, thế mà khi đối diện với lịch sử, đôi lúc lại bất ổn: lo lắng trước cuộc phản kháng 1968, đã phản đối mình, ngay cả khi nhân danh tư tưởng của mình, vốn cũng là dòng tư tưởng đẻ ra cuộc phản kháng ấy. Adorno trải nghiệm điều này – với một nỗi u sầu dằn vặt mà thống thiết, tỏa khắp một trong những tiểu luận cuối cùng đặc sắc nhất của ông, Resignation (Nhẫn nhục) – không như một thời khắc khủng hoảng và quá độ, mà như một thời khắc cứu rỗi của cuộc phán xét cuối cùng, và thậm chí trong trường hợp này, lại chống lại ông. Lo sợ bị vượt qua, hẳn là ông có thái độ thái quá; đúng thế, thái quá khi cách ly nó khỏi dòng tiếp nối lịch sử, không nghi ngờ gì, đó là cái thời khắc rất quan trọng, nhưng không phải là thời khắc khải huyền, cũng chẳng phải là thời khắc quyết định hoặc kết cuộc, mà sau đó vẫn được tiếp tục qua nhiều hình thái khác nhau và đa dạng. Suy tư mà đứng sang phía Sancho Panza thì cũng nên qua sự trào lộng mà chấn chỉnh lại cả đến cái mối bi ai u sầu và nhẫn nhục ấy.

talawas.org
____
(1)
Claudio Magris là một trong những ứng cử viên của giải Nobel văn chương những năm qua, được độc giả biết đến nhiều qua tác phẩm Danube và Microcosms. Ông sinh ra ở thành phố cảng Trieste (Ý), nhưng những tác phẩm của ông không chỉ viết về nước Ý mà còn viết về nước Đức, châu Âu. Ngoài ra ông còn là giáo sư văn chương Đức tại Trường đại học Trieste và phụ trách một chuyên mục cho tờ báo Corriere della Sera của Ý.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s