CHIẾC TRỐNG THƯỢNG GIỚI

truyện ngắn của Vichto Pelevin
chuyển ngữ : Đào Tuấn Ảnh

Vichto Olegovich Pelevin sinh ngày 22.11.1967 tại Moskva, trong một gia đình quân nhân. Năm 1989 Pelevin thi vào trường đại học năng lượng, từ 1989-1990 học hàm thụ trường đại học viết văn Maxime Gorki.
Pelevin bắt đầu sáng tác vào giữa những năm 80, mười năm sau, chưa đầy ba mươi tuổi, có trong tay hơn chục tiểu thuyết, truyện vừa và năm-sáu tập truyện ngắn, anh đã trở thành “hiện tượng bí hiểm nhất và nổi tiếng nhất trong thế hệ các nhà văn hậu Xô Viết”. Bí hiểm vì Pelevin luôn trốn tránh các nhà báo, rất ít khi phát biểu công khai, hầu như không có mặt ở các cuộc tụ hội của giới, và không ai biết anh kiếm sống bằng nghề gì, vì ở nước Nga hiện nay, dù có tài và viết khoẻ như anh, thì nghề viết văn vẫn không thể nuôi sống người cầm bút. Nổi tiếng vì các tác phẩm của anh luôn gây tranh cãi, người thì đánh giá anh là một trong những đại diện trẻ nhất (về tuổi đời) và xuất sắc nhất của khuynh hướng hậu hiện đại ồ ạt chiếm lĩnh văn đàn Nga vào những năm 1980-1990, kẻ liệt anh vào hàng ngũ đông đúc các nhà văn best seller thời hậu Xô Viết. Song dù các ý kiến về sáng tác của Pelevin có khác nhau như thế nào, thì anh vẫn là một trong những nhà văn có số lượng độc giả lớn nhất hiện nay, và hầu hết các tác phẩm của anh được dịch ra tiếng nước ngoài, được đánh giá cao ở phương Tây. Chiếc Trống Thượng Giới trích từ tập Mũi Tên Màu Vàng. *




Bước vào trong toa tàu, viên cảnh sát liếc nhìn Tania và Masa, sau đó đưa mắt sang phía góc cửa thông qua toa bên cạnh, ngạc nhiên thấy một người đàn bà ngồi ở đó.
Người đàn bà trông thật hoang dã. Nhìn khuôn mặt môngôlôit, giống như chiếc bánh xèo để ba ngày rìa cạnh đã khô cong, khó lòng đoán được tuổi của bà – hơn nữa cặp mắt bà lại bị giấu dưới những chiếc nơ bằng da và những sợi dây cườm. Mặc dù tiết trời ấm áp bà vẫn đội một chiếc mũ lông có ba sọc ngang lớn bằng da – một sọc bao quanh trán và gáy, từ đó lủng lẳng những dải ruy băng đính hình nhân nhỏ bằng đồng, những quả lục lạc và những miếng kim loại bé xíu rủ xuống mặt, ngực và vai. Hai sọc còn lại may liền với chóp mũ, trên đó đính một con chim bằng sắt thô kệch, ngỏng cái cổ dài xoắn lại về phía trên.
Bà mặc một chiếc áo dài rộng thùng thình tự may lấy từ những dải lông hươu xen lẫn những sọc da, đính những lá kim loại óng ánh và những quả lục lạc mà mỗi khi tàu xóc lại leng reng những âm thanh dễ chịu. Ngoài những thứ đó ra, trên áo của bà còn vô số vật nhỏ khác khó đoán được ý nghĩa – vài mũi tên sứt mẻ, hai tấm huân chương “Danh dự”, hai mẩu sắt tây trên đó chạm hai cái mặt người không có miệng, còn trên vai phải lủng lẳng một dải băng treo hai chiếc đinh dài đã gỉ sét. Tay bà cầm một chiếc trống nhỏ bằng da thuôn thuôn, cũng được trang trí bằng những quả lục lạc, cạnh đó rìa của một chiếc trống khác lộ ra từ miệng cái túi tenit to tướng mà bà đang ngồi lên.
– Giấy tờ, – cuối cùng viên cảnh sát tới gần đề nghị
Người đàn bà tuyệt không có một phản ứng nào trước lời đề nghị đó.
– Bà ấy đi cùng với tôi, – Tania xen vào. – Bà ấy không có giấy tờ. Không hiểu tiếng Nga.
Tania nói một cách mệt mỏi như thể một người phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong ngày những lời nhàm chán.
– Không có giấy tờ là thế nào? – Viên cảnh sát hỏi.
– Một bà già việc gì phải mang giấy tờ theo người? Bà ấy để tất cả giấy tờ ở Moskva, ở Bộ Văn hoá ấy. Bà ấy đi theo đoàn ca múa dân gian.
– Sao bà ấy lại ăn mặc như vậy?
– Đó là quần áo dân tộc người ta – Tania trả lời. – Bà ấy là người chăn hươu tiên tiến. Có cả huân chương. Đấy, nhìn thấy không, ở bên phải chiếc lục lạc ấy.
– Đây không phải là chốn rừng xanh núi đỏ. Như thế này là vi phạm trật tự xã hội.
– Trật tự xã hội nào? – Tania cao giọng. – Anh bảo vệ cái gì vậy? Những vũng nước ở cạnh cửa toa kia? Hay bọn người ngoài đó?
Cô hất hàm ra phía cửa toa, nơi vọng lại những tiếng gào thét của đám say rượu.
Viên cảnh sát nghi ngờ nhìn người phụ nữ mà Tania gọi là bà già – đang ngồi im trong góc cửa, lắc lư cùng với toa tàu và không hề chú ý tới cuộc cãi cọ đang diễn ra mà nguyên nhân là sự có mặt của bà. Mặc dù trông thật kì quặc, song thân hình bé nhỏ của bà phản chiếu sự tĩnh tại, thanh bình đã làm cho viên cảnh sát thấy bớt căng thẳng. Anh ta khẽ nở một nụ cười với cái gì đó xa xăm, và bàn tay phải, theo thói quen, định nắm lấy cây dùi cui đeo bên hông, cũng dừng lại.
– Tên bà ấy là gì? – Anh ta hỏi.
– Tưimư, – Tania đáp.
– Thôi được, – viên cảnh sát nói, đẩy cánh cửa toa nặng nề. – Phải để ý đấy…
Cánh cửa toa đóng lại sau lưng anh ta. Những tiếng la hét phía ngoài vọng tới hơi yếu đi một chút. Đoàn tàu phanh lại, trước mắt các cô gái, trong mấy giây chớp nhoáng, hiện ra một sân ga trải nhựa đường, phía sau là những ngôi nhà một tầng với những ống khói to nhỏ, cao thấp khác nhau, một số đang nhả khói yếu ớt.
– Ga Kremato, – một giọng nữ vô cảm phát ra từ chiếc loa thông báo khi các cửa ra vào đóng lại, – tiếp theo là ga “Cây số bốn mươi ba”.
– Ga của chúng mình? – Tania hỏi.
Masa gật đầu và nhìn Tưimư vẫn ngồi trong góc cửa, không tham dự vào những gì xảy ra xung quanh.
– Bà ấy ở với cậu lâu chưa? – Cô hỏi.
– Năm thứ ba – Tania đáp.
– Có vất vả lắm không?
– Ồ không, – Tania nói, – bà ấy hiền lắm. Đấy, cứ ngồi như thế suốt ngày trong bếp. Xem ti vi.
– Thế không đi dạo à?
– Không, – Tania nói, – không đi. Chỉ thỉnh thoảng ngủ ngoài ban công thôi.
– Nhưng bản thân bà ấy cũng nặng nề chứ? sống ở thành phố mà?
– Lúc đầu nặng nề thật, – Tania nói, – nhưng sau cũng quen dần. Hồi mới đến bà ấy toàn gõ trống vào ban đêm, cãi cọ với những người vô hình nào đó. Trên vai treo hai chiếc đinh, đấy, cậu nhìn thấy không? Bà ấy thắng tất cả. Chỉ có điều sau cuộc bắn pháo hoa thì trốn biệt vào buồng tắm.
Ga “Cây số bốn mươi ba” thật hợp với cái tên của mình. Thường thì dọc theo mỗi ga tàu đều có những cụm dân cư nào đấy, còn ở đây chẳng có một cái gì, ngoài nhà bán vé nhỏ tí xây bằng gạch, và muốn tới được chỗ này cũng chỉ có mỗi con đường đi từ Moskva. Ngay sau hàng rào là rừng kéo dài ngút tầm mắt – vậy mà trên sân ga, không hiểu từ đâu ra, cũng có được vài hành khách áo quần nhàu nhĩ, mặt mũi phờ phạc.
Masa gập người lại vì cái túi xách nặng, đi lên phía trước. Theo sau là Tania, cũng một cái túi như vậy trên vai, cuối cùng là Tưimư lần từng bước một, những quả lục lạc trên người bà reo leng keng. Bà vén gấu áo dài thượt mỗi khi bước qua vũng nước. Bà đi đôi giày Tàu màu xanh, hai cẳng chân bó trong đôi tất bằng da có đính những hạt cườm. Mấy lần Masa ngoái đầu nhìn lại thấy phía tất trái của Tưimư đính mặt một chiếc đồng hồ báo thức, còn tất bên phải là một cái móng buộc vào một đoạn dây xích giật nước của bồn bệ xí. Cái móng gần như quét lê trên mặt đất.
– Nghe này, Tania, – Masa khẽ hỏi – cái móng ở chỗ chân bà ấy để làm gì vậy?
– Để đi xuống âm ti cho khỏi bẩn chân. Dưới đó đầy những rác rưởi.
Masa còn định hỏi về chiếc mặt đồng hồ báo thức, song nghĩ thế nào, lại thôi.

*
Từ sân ga dẫn vào rừng là một con đường trải nhựa khá tốt, hai bên có hai hàng bạch dương lâu năm cao gần bằng nhau và khoảng cách giữa các cây khá đều đặn. Nhưng sau khoảng ba bốn trăm mét mọi trật tự giữa hai hàng bạch dương đều biến mất, và con đường nhựa không hiểu tự lúc nào, cũng không còn nữa, thay vào đó là mặt đường đất nhớp nháp dưới chân.
Masa nghĩ chắc đã từng có một vị thủ trưởng nào đó ra lệnh làm một con đường nhựa đi qua rừng, nhưng sau đó mới vỡ lẽ rằng con đường chẳng dẫn tới đâu, nên người ta đã quên luôn nó. Masa buồn bã nghĩ tới cuộc đời mình, được bắt đầu cách đây hai mươi nhăm năm bởi một ý nguyện không ai biết tới, rồi bỗng nhiên, cũng giống con đường này – ban đầu thì bằng phẳng, thẳng thớm, được bao bởi từng hàng, từng dãy những chân lí đơn giản, sau đó bị lãng quên bởi một vị thủ trưởng vô danh nào đó và dần biến thành một con đường đất cong queo không biết đi về đâu.
Phía trước mặt thấp thoáng một dải ruy băng buộc vào một nhánh bạch dương.
– Ở đây này – Masa nói – từ chỗ này rẽ phải vào rừng, đi thêm năm trăm mét nữa.
– Sao lại gần thế nhỉ, – Tania nghi ngờ. – Không biết có còn không.
– Chỗ này chẳng có ma nào tới cả, – Masa trả lời. – Đằng kia cũng vậy, có nhìn thấy gì đâu – nó bị đám bụi cây của khu rừng này lấp hết rồi còn gì.
Quả thật, chẳng bao lâu phía trước mặt đã hiện ra một ụ bê tông không cao lắm, hai bên là những rào dây thép gai. Sau đó họ thấy thêm một vài ụ bê tông nữa – chúng cũ kĩ, bị những bụi cây rậm rạp phủ tứ phía, và phải tới thật gần mới nhìn thấy những hàng dây thép gai chằng chịt. Hai cô gái im lặng đi dọc theo hàng rào thép gai, cho tới lúc Masa dừng lại trước sợi ruy băng tiếp theo mắc trên một bụi cây.
– Đây rồi – cô gái nói.
Một vài chỗ rào thép gai bị vén lên, cuộn vào nhau, hai cô gái dễ dàng lọt qua, còn Tưimư không hiểu sao lại lê qua lỗ hổng hàng rào bằng mông, lúng túng trong cái ngách chật hẹp, áo bị mắc vào dây thép gai làm rung lên hồi lâu những tiếng lục lạc.
Phía bên này hàng rào dây thép gai cũng vẫn là rừng, như phía bên kia, và không có một dấu vết gì chứng tỏ sự có mặt của con người ở chốn này. Masa tự tin tiến về phía trước, sau mấy phút dừng lại bên một cái hang, phía dưới đáy róc rách tiếng một con suối nhỏ đang chảy.
– Chúng mình tới nơi rồi – cô nói – kia kìa, ở trong đám bụi cây ấy.
Tania nhòm xuống phía dưới.
– Tớ chẳng nhìn thấy gì cả.
– Kia kìa, cái đuôi lăn lóc ở đằng kia kìa, – Masa chỉ, – còn chỗ đằng này là cánh. Đi nào, đằng kia có bậc xuống đấy. Tưimư không đi xuống phía dưới – bà ngồi trên chiếc túi của Tania, dựa lưng vào thân cây, lặng người đi. Masa cùng Tania bám vào những nhành cây, trượt trên lớp đất nhớp nhúa, tụt xuống dưới hang.
– Nghe này, Tania – Masa thì thầm – bà ấy sao, không cần phải nhìn thấy à? Thế bà ấy sẽ làm thế nào?
– Yên tâm, – Tania nói và nhìn vào bụi cây, – bà ấy còn biết hơn chúng mình ấy chứ… Quả thật. Chẳng hiểu sao vẫn còn giữ được nhỉ.
Đằng sau bụi cây lù lù một vật gì đó đen đen, nâu bẩn và rất cũ kĩ. Thoạt nhìn, cái vật đó làm người ta nhớ đến cái mả ngay chỗ vị tù trưởng một bộ lạc du mục không giàu có lắm bị bọn cướp trấn lột, giết chết, và vào giây phút cuối đời vị tù trưởng này đã kịp gia nhập vào một thứ thiên chúa giáo lạ lùng: từ mô đất nhỏ hẹp chạy dài, lăn lóc một mô hình chữ thập rộng bản bằng sắt, chịu khó một chút có thể nhận ra đó là đuôi một chiếc máy bay đã bị phá huỷ một nửa, lìa khỏi thân trong khi rơi xuống đất. Thân máy bay hầu như hoàn toàn chìm trong đất, trước nó vài mét, dọc theo bụi phi tử và đám cỏ là hai cánh máy bay bị rời ra, nằm lăn lóc, trên mặt một chiếc còn nổi rõ hình chữ thập ngoặc màu đen.
– Tớ đã nhìn thấy ở albom rồi – Masa phá vỡ sự im lặng – hình như đây là loại máy bay tiêm kích “Heinkel”. Còn có hai bộ phận phụ trợ nữa, một là khẩu pháo nòng ba mươi gắn dưới thân máy bay, còn bộ phận kia không biết là cái gì. Không nhớ. Nhưng mà cũng không quan trọng.
– Thế cậu đã mở ngăn lái chưa?
– Chưa – Masa trả lời – lần trước có mỗi mình, tớ sợ lắm.
– Nhỡ trong đó không có ai thì sao?
– Không thể thế được – Masa nói – kính còn nguyên đây này. Nhìn xem. Cô bước lên phía trước vài bước, vạch đám cỏ, lấy lòng bàn tay xoá một lớp bẩn lưu cữu lâu năm.
Tania cúi xuống dán mặt vào tấm kính. Đằng sau tấm kính có một vật gì đó đen đen và hình như ướt át.
– Bọn họ có bao nhiêu người cả thảy? – Cô hỏi. – Nếu như đó là “Heinkel” thì nhất định phải có cả pháo thủ?
– Mình không biết – Masa trả lời.
– Thôi được – Tania nói – Tưimư sẽ xác định. Thật tiếc là kính chắn đóng kín, chỉ cần lấy được một mẩu xương, hoặc một dúm tóc thôi, cũng dễ hơn rất nhiều.
– Như thế này bà ấy không thể à?
– Có thể – Tania nói – Có điều lâu hơn. Thôi, tối rồi, chúng mình đi lượm cành khô đi.
– Thế chất lượng có bị ảnh hưởng không?
– “Chất lượng” là gì?- Tania hỏi. – Mà chất lượng ở đây, nói chung, liệu có có hay không?
*
Đống lửa cháy cho nhiều ánh sáng hơn bầu trời chiều bị những đám mây thấp che phủ. Masa nhận thấy cái bóng dài của cô không yên, cứ nhảy nhót trên cỏ, và cô cảm thấy hơi khó chịu – cái bóng rõ là vững tin hơn bản thân cô. Masa có cảm giác trong bộ váy áo thành phố trông cô có vẻ ngốc ngếch làm sao, còn trang phục của Tưimư trong khung cảnh thiên nhiên hoang dã, dưới ánh lửa nhấp nhoáng hoá ra lại tiện lợi, hài hoà và thật tự nhiên.
– Thế nào – Tania nói – tí nữa chúng ta sẽ bắt đầu.
– Chúng mình đợi cái gì vậy? – Masa thầm thì hỏi.
– Đừng vội – Tania cũng thì thào trả lời – bà ấy tự biết khi nào và làm cái gì. Lúc này không cần nói bất kì điều gì với bà ấy.
Masa ngồi xuống đất bên cạnh cô bạn gái.
– Sợ quá! – cô nói và lấy tay vuốt vuốt lên áo khoác chỗ trái tim. – Đợi có lâu không?
– Không biết. Mỗi lần một khác. Như năm ngoái ấy…
Masa giật mình. Trên bãi cỏ vang lên một tiếng trống khô khốc, tiếp theo là tiếng reo của vô số quả lục lạc.
Tưimư đứng vươn người về phía trước, nhìn bụi cây ở mé hang. Đánh một tiếng trống nữa, bà chạy hai vòng ngược chiều kim đồng xung quanh bãi cỏ, rồi với sự nhanh nhẹn lạ thường, bà nhảy qua các bụi cây, biến mất vào trong hang. Từ phía dưới vọng lên tiếng kêu đau đớn của Tưimư làm Masa nghĩ chắc bà bị ngã gãy chân, nhưng Tania đã bình thản nhắm mắt lại.
Dưới đáy hang vọng lên tiếng trống dồn dập và những lời lẩm bẩm liên hồi. Sau đó yên lặng và Tưimư xuất hiện từ sau bụi cây. Bây giờ bà chuyển động chậm chạp và trang trọng; tiến đến gần giữa bãi cỏ bà dừng lại, giơ hai tay lên và gõ nhịp vào trống. Masa, để phòng xa, cũng nhắm mắt lại.
Cùng với tiếng trống xen vào một âm thanh mới – Masa không thấy được thời điểm xuất hiện âm thanh này, và thoạt tiên cô không hiểu đó là cái gì. Ban đầu cô cứ tưởng đó là tiếng của một nhạc cụ thuộc bộ dây, sau mới vỡ lẽ cái âm thanh u ám, xé tai ấy phát ra từ họng Tưimư.
Dường như cái giọng ấy xuất hiện trong một không gian đặc biệt, và chính nó đã tạo ra không gian này, hoà trộn, biến ảo trong đó, đụng phải vô số những vật thể của một thế giới bí ẩn, mà mỗi một vật thể buộc Tưimư phải phát ra từ cổ họng những âm thanh chói tai. Không hiểu từ đâu Masa hình dung ra một tấm lưới quét dưới đáy hố sâu, thu gom tất cả những gì mà nó gặp phải. Bỗng nhiên giọng của Tưimư vướng phải một vật gì đó và bà cố gắng thoát ra, song không thể.
Masa mở mắt và nhìn thấy Tưimư đứng gần đống lửa cố rút bàn tay mình ra khỏi khoảng không. Bà cố hết sức giật tay ra, song khoảng trống đó không chịu buông.
– Nilti dolglong – Tưimư nói, giọng doạ nạt – hilti dzamai.
Masa cảm nhận rất rõ khoảng không trước mặt Tưimư trả lời cái gì đó.
Tưimư cười phá lên và thúc mạnh vào trống.
– Nein, Herr General – bà nói – das hat mit Ihnen gar nicht zu tun. Ich bin hier wegen ganz anderer Angelegenheit.
Khoảng không hỏi điều gì đó, còn Tưimư thì cương quyết lắc đầu.
– Sao, bà ấy nói được tiếng Đức à? – Masa hỏi.
– Khi nào nhập, thì bà ấy mới nói – Tania đáp – khi đó bà ấy có thể nói bất kì thứ tiếng nào.
Tưimư cố rút tay ra một lần nữa.
– Heute ist schon zu spat, Herr General. Verzeihung, ich hab es sehr eilig – bà cáu bẳn tấn công.
Lần này Masa có cảm giác khoảng không văng ra lời đe doạ.
– Wozu? -Tưimư ré lên, giật từ trên vai dải ruybăng buộc hai cái đinh và huơ vòng trên đầu. – Nilti dzamai! blai budulan!
Khoảng không buông tay Tưimư nhanh đến nỗi làm bà bật ngửa ra đằng sau. Ngã nằm trên cỏ, bà cười ré lên, ngoảnh về phía hai cô gái, lắc lắc đầu tỏ ý chê bai.
– Sao vậy? – Masa hỏi.
– Tình hình xấu rồi – Tania đáp – dưới Âm ti không có khách hàng của cậu.
– Có thể bà ấy chưa tìm đến cùng? – Masa hỏi.
– Thế cậu nghĩ rằng dưới đó có tận cùng sao? ở đấy không có tận cùng, cũng không có bắt đầu,
– Làm thế nào bây giờ?
– Để lên Thượng giới xem sao – Tania nói – có điều xác xuất không lớn lắm. Chưa được một trường hợp nào cả. Nhưng, tất nhiên, vẫn có thể thử.
Cô quay về phía Tưimư nãy giờ vẫn ngồi trên cỏ, giơ ngón tay chỉ lên trên. Tưimư gật đầu, tiến tới bên chiếc túi tenit, lôi ra một chiếc trống khác. Sau đó bà cầm một chai côca côla, ngửa cổ uống mấy hụm, động tác này làm Masa nhớ tới danh vợt Marina Navratilova trên sân quần Umbldon.
*
Tiếng trống của Thượng giới kêu khác: nhỏ hơn và có vẻ trầm ngâm hơn. Âm thanh kéo dài, não nùng trong giọng của Tưimư cũng thay đổi và thay vì nỗi sợ hãi, nó gieo vào lòng Masa sự thanh thản và nỗi buồn nhẹ nhàng. Tất cả lại diễn ra như mấy phút trước đó, song giờ đây những gì diễn ra không ghê sợ, mà trở nên cao cả và không đúng chỗ – không đúng chỗ đến nỗi thậm chí cả Masa cũng hiểu: hoàn toàn không việc gì phải khuấy động cái thế giới mà Tưimư đang hướng tới, mặt ngẩng lên bầu trời tối sẫm ở khoảng không giữa những cành cây, tay nhẹ nhàng điểm những tiếng trống.
Masa nhớ tới một bộ phim hoạt hình cũ nói về cuộc phiêu lưu của một con sói xám nhỏ trong những vùng đổ nát, hoang hoá, cây cối chen chúc âm u ở ngoại ô Moskva. Trong phim thỉnh thoảng những cảnh đó biến mất, thay vào là những khoảng trống mênh mông ngập tràn ánh nắng mặt trời giữa trưa, gần như trong suốt, nơi trên con đường tô màu nước nhợt nhạt kẻ phiêu lưu được vẽ bằng bút lông đang khó nhọc đi về chốn xa xăm.
Masa lắc đầu trở về với hiện tại và nhìn quanh. Cô có cảm giác tất cả những thứ xung quanh cô – những bụi, những cây, bãi cỏ và những đám mây đen vừa mới bện chặt lấy nhau, – dưới tiếng trống, đã tản ra và ở khoảng trống giữa chúng hiện lên trong mấy giây một thế giới kì lạ, sáng rỡ, không quen biết.
Giọng của Tưimư bỗng vấp phải cái gì đó, nó cố gắng đi tiếp, nhưng không thể và khựng lại ở một nốt căng thẳng.
Tania giật tay Masa.
– Cậu nhìn đi, có rồi đấy – cô nói – chúng mình tìm thấy rồi. Hiện ra ngay bây giờ…
Tưimư huơ huơ tay lên trên, thét một tiếng và ngã lăn ra cỏ.
Vọng tới tai Masa tiếng gầm của động cơ máy bay. Tiếng gầm rất lâu và không hiểu từ đâu tới. Khi nó vừa tắt thì một loạt những tiếng động khác tiếp theo: tiếng gõ vào kính, tiếng va chạm của thép gỉ sét, tiếng ho rất nhẽ, nhưng rõ ràng của một người đàn ông.
Tania đứng dậy, bước mấy bước về phía hang. Ngay lúc đó Masa nhìn thấy một bóng người tối sẫm đang đứng ở rìa đám cỏ.
– Sprexen zi dois? – Vừa đi thụt lùi, Tania vừa nhắc lại. – Điếc à?
Ánh lửa nhợt nhạt chiếu lên một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, mặc áo khoác da, đội mũ phi công. Người đàn ông tiến lại, ngồi đối diện với Tưimư đang khúc khích cười. Anh ta xếp chân vòng tròn, ngước nhìn Tania.
– Sprexen zi dois?
– Thôi đi nào – người đàn ông bình thản nói – lải nhải mãi.
Tania thất vọng huýt sáo.
– Ông là ai vậy? – cô hỏi.
– Tôi là ai? Là thiếu tá Zvaginsev. Nikolai Ivanovich. Còn các cô là ai?
Masa và Tania nhìn nhau.
– Không hiểu được – Tania nói – thiếu tá Zvaginsev thế nào, trong khi máy bay là của Đức?
– Máy bay chiến lợi phẩm – Thiếu tá nói- Tôi đang đuổi nó sang một sân bay khác, bỗng nhiên ở đây…
Mặt thiếu tá Zvaginsev biến dạng – rõ là ông đang cố nhớ lại cái gì đó hết sức khó hiểu.
– Thế có nghĩa ông là phi công Xô Viết? – Tania hỏi.
– Nói thế nào được nhỉ – thiếu tá Zvaginsev nói – Tôi đã từng là người Xô Viết, nhưng bây giờ thậm chí tôi không biết mình là ai nữa. ở chỗ chúng tôi mọi thứ đều khác. Ông nhìn Masa, và không hiểu sao cô gái ngượng ngùng, quay mặt đi.
– Thế các cô đang làm gì ở đây thế? – ông hỏi – Là bởi vì thế giới người chết và thế giới người sống khác nhau. Hay không phải vậy?
– Ôi – Tania nói – cho chúng cháu xin lỗi. Chúng cháu không phiền nhiễu những người Xô Viết đâu. Đó là do chiếc máy bay. Chúng cháu cứ tưởng ở trong đó phải là người Đức kia.
– Thế các cô cần người Đức để làm gì?
Masa ngước mắt nhìn thiếu tá. Đó là một người đàn ông có khuôn mặt rộng, mũi hơi hếch và vô số những nếp nhăn chằng chịt trên má. Masa có thiện cảm với những khuôn mặt như thế. Thật ra khuôn mặt của thiếu tá bị một lỗ đạn bên má trái làm hỏng một chút, song Masa, từ lâu rồi, đã đi tới kết luận rằng trong thế giới này không có sự hoàn thiện, và cô không tìm nó ở mọi người nữa, nhất là vẻ ngoài của họ.
– Ông có biết không – Tania nói – thời buổi hiện nay như thế đấy, mỗi người kiếm tiền theo cách mình có thể. Thế nên chúng cháu cùng với bà…
Cô hất mặt về phía Tưimư, người không tham dự vào câu chuyện.
– Nói ngắn gọn, công việc của chúng cháu như thế này. Hiện nay mọi người đang đua nhau chạy khỏi đất nước. Nếu lấy chồng có công ty thì phải bốn xập. Chúng cháu đổ đồng trung bình chỉ lấy năm vé thôi.
– Sao, lấy những người chết á? – Thiếu tá hỏi, vẻ không tin.
– Ồ, vâng. Thì chủ yếu là cần cái quốc tịch. Chúng cháu đưa ra điều kiện như vậy mới làm cho họ sống lại để lấy vợ. Thường là người Đức. Chúng cháu lấy giá xác một đàn ông Đức bằng một tay da đen Dimbabue sống, hoặc một tay Do Thái không có thị thực nhập cảnh. Tất nhiên, tốt nhất vẫn là một ông Tây Ban Nha thuộc “Lữ đoàn xanh”, nhưng mà xác ấy cao giá lắm. Vì hiếm mà. Ngoài ra còn có cả người Ytalia, người Phần Lan nữa. Người Rumani với lại Hungari chúng cháu chả động tới.
– Thì ra thế – thiếu tá nói – thế sau đó họ sống có được lâu không.
– Khoảng ba năm – Tania đáp.
– Ít quá – thiếu tá nói – Không thương họ à?
Tania nghĩ một chút, khuôn mặt xinh đẹp của cô trở nên hoàn toàn nghiêm trang, giữa hai lông mày hằn rõ một nếp nhăn. Không khí trở nên im lặng, và sự im lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng cành củi nổ lép bép và tiếng lửa liếm vào những lá cây.
– Một câu hỏi khó đấy – cuối cùng cô nói – ông hỏi đứng đắn đấy chứ?
– Hoàn toàn đứng đắn.
Tania nghĩ thêm chút nữa.
– Cháu nghe thấy thế này – cô bắt đầu giải thích, – có quy luật của đất và quy luật của trời. Nếu hiển thị được sức mạnh của trời thì tất cả mọi vật có thể chuyển động, còn những cái vô hình – sẽ hiện ra. Nhưng chúng không có cốt lõi, cơ sở bên trong, và trong tự nhiên chúng chỉ là sự cô đặc chốc lát của bóng tối. Chính vì thế mà chúng tồn tại không lâu trong một vòng chuyển hoá. Theo bản chất sâu xa nhất của mình chúng đều là sự trống rỗng. Chính vì thế mà cháu thương xót chúng.
– Đúng vậy – thiếu tá nói. – Cô hiểu sâu đấy.
Nếp nhăn giữa hai hàng lông mày Tania giãn ra.
– Nói thật, công việc nhiều tới mức chẳng có thời gian đâu mà nghĩ ngợi. Thường thì mỗi tháng chúng cháu cũng làm được mươi vụ. Mùa đông ít hơn. ở Moskva người ta đặt hàng bà Tưimư trước những hai năm cơ đấy.
– Thế còn những kẻ mà các cô làm cho sống lại thì sao? Bao giờ cũng thuận cả chứ?
– Gần như thế – Tania nói – dưới âm ti buồn khủng khiếp. Tối tăm, chật chội, lại chẳng có thứ gì. Cứ nghiến răng trèo trẹo ấy. Không biết ở chỗ ông, trên Thượng giới ấy, như thế nào – chúng cháu chưa có khách hàng ở trên đó, chứ dưới này người chết cũng đủ hạng. Năm ngoái, ở Kharcov đấy – thật kinh khủng. Chúng cháu vớ được một tên lính tăng thuộc lữ đoàn “Đầu lâu”, cho nó ăn mặc, có nghĩa là tắm rửa, cạo râu, rồi giải thích hết cho nó hiểu. Có vẻ đồng ý. Mà cô vợ chưa cưới khá lắm nhá, cô Marina, tốt nghiệp khoa báo chí hẳn hoi. Bây giờ hình như người ta đã kiếm cho cô ấy một anh chàng thuỷ thủ người Nhật rồi… Trời đất, giá như bác nhìn thấy họ bơi mới khiếp chứ… Cứ nghĩ tới… Mà cháu đang nói về cái gì ấy nhỉ?
– Về lính tăng – thiếu tá nhắc.
– À, vâng. Nói ngắn gọn, chúng cháu đưa cho tên lính này ít tiền, để nó cảm thấy mình là người. Thế là nó, cũng dễ hiểu thôi, lập tức uống rượu. Thoạt đầu bao giờ chúng cũng uống rượu. Có lần, trong một quán rượu nào đó người ta không bán vốt ca cho nó. Họ đòi phải trả bằng tiền rúp. Mà nó thì chỉ có cupon(*) và tiền mác thời chiếm đóng. Nó nổi sung lên đập phá cửa hiệu. Đến đêm nó lái “Con hổ”(**) tới húc đổ tất cả các quán hàng trước cửa ga. Từ bấy đến nay người ta vẫn thường nhìn thấy chiếc xe tăng đó vào ban đêm. Nó chạy khắp Kharcov, san bằng các cửa hiệu kinh doanh. Ban ngày lại biến mất. Đi đâu – không biết được.
– Những trường hợp như thế cũng có thể xảy ra, – thiếu tá nói, – trong thế giới có biết bao điều kì lạ.
– Từ đó chúng cháu chỉ làm việc với đám vermaxt(*) thôi. Tuyệt đối không dính dáng gì với bọn SS. Chúng cứ hay bị kích động thế nào ấy. Lúc thì phá uỷ ban xã, lúc thì hát rống lên. Còn lấy vợ thì lại chẳng muốn, bị cấm theo điều luật mà.
Trên bãi cỏ một cơn gió lạnh ập tới. Masa rời cái nhìn đăm đắm khỏi thiếu tá Zvaginsev và trông thấy ba bóng người không rõ hình dáng thấp thoáng trên khoảng trống giữa ba cái cây mé bãi cỏ. Tưimư hốt hoảng kêu lên và lập tức chạy tới nấp sau lưng Tania.
– Đó, lại bắt đầu rồi, – Tania lẩm bẩm. – Đừng có sợ cuống lên như thế, mụ già ngốc ngếch, họ không động được tới mụ đâu.
Cô đứng dậy tiến lại phía ba bóng người, và từ xa đã làm những điệu bộ trấn an, giống như lái xe phạm luật đang trình bày trước viên cảnh sát giao thông giữ mình lại. Tưimư cố thu mình, ép chặt đầu vào hai đầu gối và khẽ run rảy. Đề phòng rắc rối, Masa tiến lại gần đống lửa và bỗng nhiên cả người cô cảm nhận được ánh mắt của thiếu tá đang dõi theo mình. Cô đưa mắt nhìn ông. Thiếu tá Zvaginsev nở một nụ cười buồn bã.
– Cô đẹp lắm, Masa ạ, – ông thầm thì. – Khi Tưimư của các cô gọi, tôi đang làm vườn. Bà ấy cứ gọi, cứ gọi mãi, làm tôi phát chán. Tôi đã định trêu cho các cô một mẻ, nhưng khi nhìn xuống thì tôi thấy cô ở đây, Masa ạ. Và cô làm cho tôi ngạc nhiên quá đỗi, ngạc nhiên tới mức không đủ lời để diễn tả. Cô rất giống cô bạn gái Varia cùng trường phổ thông của tôi. Cô ấy hệt như cô vậy, cũng có những nốt tàn nhang trên mũi. Chỉ có tóc cô ấy dài hơn. Tôi yêu cô ấy. Nếu không có cô, thì tôi xuống đây làm gì.
– Thế ở chỗ các ông cũng có vườn à? – Masa hỏi, thoáng đỏ mặt.
– Có.
– Thế chỗ đó tên là gì, ông sống ở đâu?
– Chỗ chúng tôi không có tên gọi – thiếu tá nói. – Chính vì thế mà chúng tôi sống yên ổn và sung sướng.
– Nhìn chung thì ở chỗ các ông ra sao?
– Cũng bình thường – thiếu tá nói, và lại mủm mỉm cười.
– Sao – Masa hỏi – cũng có đồ đạc như mọi người á?
– Biết nói với cô như thế nào, Masa. Một mặt thì dường như là có hết, mặt khác – dường như chẳng có gì. Nói chung mọi thứ đều chỉ là tương đối, không xác định. Nhưng đó chỉ là lúc sực nghĩ ra thôi.
– Thế ông sống ở chỗ nào?
– Tôi dường như có một căn nhà nhỏ với một khu vườn. Thật yên tĩnh và dễ chịu.
– Thế ông có ô tô chứ? – Masa hỏi, nhưng ngay lập tức cảm thấy lúng túng vì nhận ra câu hỏi của mình thật ngốc nghếch.
– Nếu muốn thì cũng có thể có, sao lại không nhỉ.
– Loại xe nào vậy?
– Cũng còn tuỳ, – thiếu tá trả lời. – Cả lò nướng cũng là lò vi ba nhé, và có cả… máy giặt nữa, có điều chẳng có gì để mà giặt. Còn có cả ti vi màu cơ đấy. Thật ra thì chỉ có một kênh thôi, nhưng tất cả kênh ở chỗ các cô, chúng tôi đều bắt được hết.
– Ti vi cũng tuỳ lúc tuỳ loại à?
– Vâng – thiếu tá đáp. – Khi thì “Panasonic”, khi “Sivaki”. Nhưng nếu chợt nhớ ra – nhìn lên, thì lại chẳng thấy gì hết cả. Chỉ có hơi nước bồng bềnh cuộn lên thôi… thì tôi đã nói, tất cả đều giống như chỗ các cô. Chỉ có duy nhất tên gọi là không có. Tất cả đều vô danh. Càng lên cao, càng vô danh.
Masa không còn gì để hỏi thêm nữa và im lặng, nghĩ tới những lời cuối cùng của thiếu tá. Trong lúc đó Tania đang sôi nổi chứng minh điều gì đó cho ba bóng người.
– Tôi nhắc lại với các người lần nữa. Từ khi bị sét đánh bà ấy mới có phép thuật phù thuỷ đấy – giọng cô vọng lại – tất cả đều tuân theo luật định. Hồi nhỏ bà ấy bị sét đánh, sau đó thần sét tặng cho bà một mảnh sắt tây để bà ấy làm một cái lưỡi trai… Tại sao tôi lại phải trình các người? Tại sao bà ấy lại phải mang theo người? Không ở đâu lại gặp những chuyện như thế này… Các người phải thấy xấu hổ khi bắt nạt một bà già chứ. Tốt nhất là các người hãy giúp mấy vị lãnh đạo ổn định trật tự ở Moskva đi. Thật kinh tởm – sống mà phát sợ, còn các người thì sao, chỉ được cái chèn ép những người già cả… Tôi sẽ kiện…
Masa cảm thấy thiếu tá chạm vào khuỷu tay cô
– Masa – ông nói – tôi phải đi bây giờ. Tôi muốn tặng em một vật để làm kỉ niệm.
Masa nhận thấy ông chuyển sang gọi cô bằng em, và điều này làm cô thấy dễ chịu.
– Vật gì thế ạ? – Cô hỏi.
– Một ống sáo nhỏ – thiếu tá trả lời – Làm từ cây sậy. Lúc nào em thấy mệt mỏi vì cuộc sống ấy, hãy tới chỗ máy bay của tôi. Em hãy thổi cây sáo này và tôi sẽ tới bên em.
– Có thể làm khách chỗ ông được không? – Masa hỏi.
– Có thể – thiếu tá trả lời – Hãy nếm thử dâu đất, rồi em sẽ thấy dâu đất trong vườn của tôi ngon như thế nào.
Ông đứng dậy.
– Em đến chứ? – ông hỏi – Tôi sẽ đợi em.
Masa khẽ gật đầu.
– Thế chả lẽ ông… ông chẳng đang là người sống đó thôi?
Thiếu tá nhún vai, rút từ túi áo da một khẩu “TT” gỉ sét và đưa lên mang tai.
Một tiếng súng vang lên.
Tania hoảng hốt quay lại, nhìn chăm chăm vào thiếu tá lúc đó đang loạng choạng, song vẫn còn đứng được. Tưimư ngẩng đầu và khúc khích cười. Gió lạnh lại nổi lên, và Masa nhìn thấy bên rìa bãi cỏ không còn một bóng người nào.
– Tôi sẽ đợi – thiếu tá Zvaginsev nhắc lại và loạng choạng đi về phía hang, trên đó hiện mờ mờ một cầu vồng rất khó nhận ra. Đi được vài bước thân hình của ông tan biến trong đêm tối, giống như cục đường tan trong cốc trà nóng.
*
Masa nhìn qua kính cửa sổ những ngôi nhà nhỏ và những mảnh vườn đang vun vút lao qua. Cô lặng lẽ khóc.
– Sao thế Masa, sao thế? Tania hỏi và nhìn vào gương mặt đẫm nước mắt của bạn. – Cho qua đi! Thỉnh thoảng vẫn bị như thế đấy. Nếu cậu muốn, chúng mình cùng tới Arkhangensk. Ở đó, trong đầm lầy có chiếc B-29, ” Pháo đài bay” của Mĩ. Có hẳn mười một đứa, đủ cho mọi người. Đi nhé?
– Khi nào các cậu đi? – Masa hỏi.
– Sau ngày mười lăm. À mà nhân thể, ngày mười lăm cậu tới dự ngày lễ xá tội với bọn tớ nhé. Đến không? Tưimư đã phơi khô nấm diệt ruồi. Bọn tớ sẽ gõ trống Thượng giới để cậu nghe, một khi cậu thích như vậy. Nghe thấy không, Tưimư, chúng mình sẽ mừng lắm, nếu Masa tới làm khách, nhỉ?
Tưimư ngẩng mặt, cười ngoác miệng thay câu trả lời, phô những mảnh răng màu nâu xỉn còn sót lại, nghiêng ngả tứ phía trên hai cái lợi. Nụ cười nom rõ khiếp vì đôi mắt Tưimư giấu dưới những dải băng bằng da rủ từ trên mũ xuống, có cảm giác như bà cười chỉ độc bằng miệng, còn đôi mắt không nhìn thấy thì vẫn lạnh băng và chăm chú.
– Đừng sợ – Tania nói – bà ấy hiền lắm.
Nhưng Masa đã nhìn ra ngoài cửa sổ, tay nắm chặt chiếc sáo làm từ cây sậy để trong túi mà thiếu tá Zvaginsev đã tặng cô, và suy nghĩ rất lung về một điều gì đó.


hopluu.net

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s