NHỮNG CÁCH THẤY (2)

John Berge
chuyển ngữ : Như Huy

Người ta làm ra hình ảnh, trước hết với mục đích ghi lại các vẻ dạng bên ngoài của điều gì đó mà giờ đã không còn tồn tại. Tuy nhiên, theo thời gian, họ nhận thấy rằng một hình ảnh có thể tồn tại lâu hơn những gì nó tái hiện; Hình ảnh cho thấy điều gì đó, hay ai đó trước đây từng trông ra sao-với hàm ý rằng điều gì đó, hay ai đó ấy, đã từng ra sao trong mắt người khác.
Sau này, thậm chí thị năng của kẻ sản tạo ra hình ảnh còn được coi như bộ phận của chính hình ảnh mà kẻ đó thu ghi lại hay sản tạo ra. Một hình ảnh đã trở nên bằng cớ cho việc X đã thấy Y ra sao. Đây chính là kết quả của một ý thức về cá nhân tính ngày càng rõ, đồng thời với nhận thức ngày càng tăng về lịch sử. Có thể có chút võ đoán ở đây khi tìm cách định mốc thời gian chính xác cho thời điểm xuất hiện cái nhận thức và ý thức nói trên, tuy nhiên, nói một cách nào đó, tại châu Âu, cái ý thức này đã xuất hiện từ thời điểm bắt đầu của thời Phục hưng.

Không một kiểu dấu vết hay văn bản nào từ quá khứ có thể trưng ra một bằng cớ trực tiếp về thế giới vây xung quanh những con người thuộc những thời đại khác. Ở phương diện này, các hình ảnh luôn chính xác và phong nhiêu hơn văn chương. Tuy nhiên, nói như vậy không đồng nghĩa với sự từ khước chất lượng tưởng tượng và biểu lộ của nghệ thuật qua việc chỉ coi chúng có tính tư liệu thuần túy; tác phẩm càng nhiều tưởng tượng bao nhiêu, nó càng cho phép chúng ta chia sẻ một cách sâu sắc với trải nghiệm của nghệ sỹ về cái khả thị bấy nhiêu.

Tuy nhiên, khi môt hình ảnh được trình bày trong vai trò một nghệ phẩm, cách người ta xem nó lại bị tác động bởi toàn bộ các giả định về nghệ thuật mà họ từng được dạy dỗ. Các giả định ấy là về

Cái đẹp
Sự thật
Tài năng thiên bẩm
Sự khai hóa
Địa vị xã hội
Khiếu thẩm mỹ
V.v.

Rất nhiều những giả định này không phù hợp với thế giới thực (thế giới thực không chỉ là thực kiện thuần túy, nó còn bao gồm cả ý thức của chủ thể trong thế giới). Không phù hợp với hiện tại, các giả định này quay ra che mờ quá khứ. Chúng huyền thoại hóa hơn là làm rõ quá khứ. Quá khứ là điều gì đó không bao giờ nằm sẵn đó chờ được khám phá, được nhận dạng chính xác một cách khách quan. Lịch sử luôn cấu tạo nên mối quan hệ giữa hiện tại và quá khứ của chính hiện tại ấy. Nỗi âu lo về hiện tại tất yếu dẫn ta đến việc huyển thoại hóa quá khứ. Chúng ta không sống trong quá khứ; Nó là một nguồn mạch để chúng ta rút ra các kết luận phục vụ cho hành động của chúng ta trong hiện tại. Sự huyển thoại hóa văn hóa đối với quá khứ dẫn đến một mất mát kép. Thứ nhất là việc các nghệ phẩm trở nên bị xa cách một cách không cần thiết, và thứ hai là việc chính quá khứ (được huyển thoại hóa), giờ đây đã không đưa ra được những bài học thiết yếu để giúp chúng ta hành động trong hiện tại.

Cũng như việc khi “thấy” một bức tranh phong cảnh, chúng ta luôn đặt bản thân mình vào đó, khi “thấy” nghệ thuật của quá khứ, chúng ta sẽ đặt bản thân mình vào lịch sử. Khi bị ngăn trở để thấy nó, chúng ta sẽ đồng thời bị tước đoạt chính cái lịch sử thuộc về chúng ta. Vậy kẻ nào sẽ được lợi từ sự cướp đoạt này? Sự thật ở đây là, việc nghệ thuật của quá khứ bị huyền thoại hóa là bởi một thiểu số được ưu đãi quyết tâm tạo ra một thứ lịch sử có thể biện minh thông suốt cho vai trò của giai cấp thống trị, tức một sự biện minh đã không còn hợp lệ trong thời hiện đại. Nguyên do của việc quá khứ bị huyền thoại hóa là như vậy đó.

Hãy xem xét một ví dụ kinh điển của kiểu huyền thoại hóa ấy. Một nghiên cứu hai tập gần đây mới được xuất bản về họa sỹ Frans Hals. Cho tới nay, chưa có nghiên cứu nào đầy đủ về họa sĩ này như cuốn sách này. Tuy nhiên, trong vai trò là một cuốn sách lịch sử nghệ thuật chuyên sâu, cuốn sách này chỉ có chất lượng trung bình.

Hai bức tranh lớn cuối cùng của Frans Hals đều vẽ các chân dung các thành viên điều hành nam và nữ thuộc nhà tế bần Alms tại thành phố Haarlem, Hà Lan vào thế kỷ 17. Cả hai đều là các bức chân dung được đặt hàng chính thức. Hals, một ông già trên 80 tuổi, lúc này rất túng thiếu. Hầu hết cuộc đời ông sống trong nợ nần. Trong suốt mùa xuân năm 1664, là năm ông bắt đầu vẽ các bức chân dung này, nếu không muốn chết cóng vì lạnh, Hals buộc phải xin được một số lượng lớn than bùn từ nhà tế bần công cộng. Những người mẫu cho ông vẽ hai bức tranh nói trên chính là những người điều hành nhà tế bần công cộng kiểu đó.

Tác giả chuyên luận về Hals đã ghi lại các sự thật này, và rồi hiển ngôn nói rằng sẽ là không chính xác nếu đọc ra trong cả hai bức tranh bất kỳ sự phê phán nào đối với những người mẫu. Chả có bằng chứng nào, tác giả viết, cho thấy việc Hals đã vẽ các bức tranh với niềm cay đắng. Tuy nhiên, tác giả xem xét hai bức tranh này trong vai trò chỉ là hai nghệ phẩm xuất sắc và rồi tường giải vì sao lại như thế. Ông viết về các nữ điều hành như sau:

“Mỗi phụ nữ đều kể với chúng ta về thân phận con người của họ bằng một sự quan trọng ngang nhau. Mỗi phụ nữ đều xuất hiện trong sự sáng sủa và nổi bật ngang nhau trên bề mặt rộng lớn sẫm tối của bức tranh. Tuy thế, họ lại được liên kết với nhau bằng một sự sắp xếp các vị trí ngồi nhịp nhàng vững chãi và bằng những chiếc đầu và đôi tay được cố tình bố cục theo đường chéo. Sự điều tiết tinh tế đối với các mảng tối sâu ấm áp đã tạo cho mối liên kết hài hòa giữa tổng thể và hình thể một độ tương phản khó quên giữa các mảng trắng mạnh mẽ và tông mầu sáng nơi da thịt- và đây cũng chính là nơi mà các nhát cọ rời đã đạt tới đỉnh cao của cường độ và chiều rộng cọ

Bố cục vững chãi của bức tranh đã đóng góp quan trọng vào quyền lực hình ảnh của nó. Vì lẽ đó, việc xem xét bố cục của bức tranh là điều dễ hiểu. Tuy nhiên ở đây, sự xem xét về bố cục lại được viết ra bằng một văn phong đạt tới mức gần như mô tả cảm xúc về bức tranh. Những thuật ngữ như mối liên kết hài hòa, độ tương phản khó quên, hay, (đạt tới) đỉnh cao của cường độ và chiều rộng cọ đã đưa các nỗi xúc động do hình ảnh tạo ra, tức những gì thuộc lãnh địa của kinh nghiệm sống động về bức tranh, -vào lãnh địa của sự “hân hưởng nghệ thuật”có tính bất vị lợi (theo Kant, sự hân hưởng nghệ thuật buộc phải có tính bất vị lợi, triệt tiêu các cảm xúc và nỗi xúc động đời thường, để đạt tới một thái độ đạm lạnh, hay một độ lùi, tức thái độ sẽ giúp cho người xem nhận ra được “cái đẹp” do bản thân các yếu tố hình thức của bức tranh tạo ra-ND) . Mọi xung đột đều biến mất. Chỉ còn lại “thân phận con người” vĩnh cửu, và rồi bức tranh chỉ được xem xét trong vai trò một vật thể được tạo ra một cách tuyệt vời.

Rất ít thông tin về Hals hay về những thành viên điều hành nhà tế bần, tức những người đặt họa sĩ vẽ bức tranh. Vì lẽ đó, sẽ không có cách nào có được các bằng cớ tường tận giúp vẽ ra mối quan hệ giữa họ với nhau. Tuy nhiên, chính các bức tranh sẽ là bằng cớ: bằng cớ qua việc một nhóm đàn ông và một nhóm phụ nữ được thấy ra sao trong mắt của một gã đàn ông khác, tức một họa sĩ. Hãy nghiên cứu bằng cớ này và rút ra kết luận cho mình.

Sử gia nghệ thuật sợ hãi sự phán đoán trực tiếp:

“Cũng như trong các bức tranh khác của Hals, những sự đặc điểm hóa sắc sảo của họa sĩ đã hầu như quyến rũ chúng ta vào niềm tin rằng chúng ta biết rõ về các nét dạng cá tính và thậm chí các thói quen của những người đàn ông và phụ nữ được vẽ”

Sự “quyến rũ” này, mà sử gia viết, là cái gì vậy? Nó chẳng là gì khác ngoài việc chính các bức tranh đã áp đặt lên chúng ta. Chúng áp đặt lên chúng ta bởi chúng ta chấp nhận cách Hals thấy người mẫu của ông. Song chúng ta không hề chấp nhận điều này một cách vô tư. Chúng ta chấp nhận nó trong chừng mực nó tương thích với các quan sát của chúng ta về con người, động tác, khuôn mặt, và thói quen. Sự tương thích này có thể có được là do hiện chúng ta vẫn sống trong một xã hội của các mối quan hệ xã hội và giá trị đạo đức phần nào tương tự với thời của Hals.Và cũng chính nó đã tạo cho các bức tranh của Hals sức hút vể xã hội và tâm lý. Không phải kỹ năng “quyến rũ” của họa sĩ, mà chính sự tương thích giữa các quan sát của chúng ta với nhân vật của Hals, đã thuyết phục chúng ta rằng chúng ta có thể hiểu về những nhân vật ấy

Tác giả tiếp tục:

“Với một số phê bình gia, sự quyến rũ này đã thành công mỹ mãn. Ví dụ, có người từng nhấn mạnh rằng nhân vật nam đội chiếc mũ cao có chỏm đứng, lệch đến nỗi không che được mái tóc dài và mỏng của ông ta, với đôi mắt được vẽ lạ lùng như thể vô hồn, có vẻ như đang được họa sĩ miêu tả trong tình trạng say rượu”

Tác giả cho rằng đây là một sự phỉ báng. Ông lý luận rằng ở thời đó có mốt đội mũ lệch. Ông trích dẫn ý kiến về y học để chứng minh rằng vẻ mặt và ánh nhìn của nhân vật nam đội mũ lệch rất có thể có nguyên nhân từ việc ông ta bị chứng liệt cơ mặt. Ông khẳng quyết rằng nếu một trong những người mẫu được miêu tả như thể đang trong tình trạng say rượu, bức tranh sẽ không đời nào được chấp nhận. Mỗi điểm trên đây đều có thể tranh luận rất dài dòng. (Các lý lẽ phản biện có thể là; Đàn ông Hà lan vào thế kỷ 17 thường đội mũ lệch là để được coi như thể một kẻ sành điệu và yêu chuộng thám hiểm. Việc uống nhiều rượu là một điều được chấp nhận vào thời đó, v.v, và v.v. ). Song một thảo luận kiểu như thế sẽ đưa chúng ta xa khỏi cuộc đối mặt duy nhất có ý nghĩa và là cuộc đối mặt mà tác giả quyết không bàn đến

Trong cuộc đối mặt này, các nhân viên điều hành nam và nữ nhìn chằm chằm vào Hals, một họa sĩ già cùng quẫn, kẻ đã đánh mất hết danh tiếng và nay chỉ sống nhờ vào từ thiện. Họa sĩ khảo sát những nhân vật quyền uy này bằng con mắt của một kẻ nghèo khó, song lại phải cố gắng khách quan, ví dụ, phải cố gắng vượt qua góc nhìn của bản thân- một kẻ nghèo khó, khi miêu tả các nhân vật ấy. Chính điều này đã tạo ra sự kịch tính cho các bức tranh này. Sự kịch tính của một “độ tương phản khó quên”

Sự huyền thoại hóa không nằm ở việc sử dụng các từ vựng đầy cảm xúc. Sự huyền thoại hóa nằm ở tiến trình tẩy xóa giấu giếm những gì mà đáng ra sẽ phải xuất hiện đường hoàng. Hals đã là họa sĩ chân dung đầu tiên vẽ các nhân vật và cử chỉ do chủ nghĩa tư bản tạo ra. Ông đã hội họa hóa những gì Balzac từng làm hai thế kỷ trước trong văn chương. Thế nhưng tác giả của khảo cứu chuyên sâu về họa sĩ đã lại tổng kết về sự thành công của hals bằng việc đề cập tới

“Sự kiên định không thay đổi của Hals vào thị năng cá nhân của ông, -tức điều làm phong phú ý thức của chúng ta về những con người đồng đẳng với chúng ta, và nâng cao cảm giác e sợ của chúng ta trước quyền năng dần tăng của những xung lực lớn lao, – đã chính là điều giúp họa sĩ có thể ban tặng cho chúng ta một cái nhìn kỹ lưỡng vào các luồng lực tối quan trọng của đời sống”

Đây chính là sự huyền thoại hóa.

Để bác bỏ sự huyền thoại hóa quá khứ (tức điều có thể tệ hại ngang bằng với sự huyền thoại hóa kiểu ngụy-marxist), thông qua các hình ảnh có tính miêu tả trong cuốn sách này, chúng ta sẽ khảo sát mối liên hệ cụ thể giờ đây đang hiện hữu giữa hiện tại và quá khứ. Nếu chúng ta có thể thấy hiện tại đủ rõ, chúng ta sẽ đặt ra được các câu hỏi đúng về quá khứ.
(Như Huy dịch từ: Ways of Seeing, John Berger, Peinguin Books published 2008)
huybeo.blogspot.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s