LÀNG CHÀI NA THAB LẤN BIỂN

ký sự của Lam Phong


Từ 20 năm trước ngư phủ Wisun Ari cùng cộng đồng làng chài Na Thab bé nhỏ ở tỉnh Nakhon Si Thamarat đã thấy mối đe doạ của biển lấn bờ. Ông cùng người dân bảo vệ làng bằng việc trồng đước quanh vùng bờ biển để giữ đất. Cộng đồng làng lập ra một quy luật sử dụng và khai thác bền vững cây đước, một thành công điển hình từ sự chung sức của cộng đồng chứ không ngồi chờ những dự án từ các tổ chức chính phủ…

Làng chài Na Thab giờ được che phủ bởi một thảm rừng đước dày đặc.
Lão ngư Wisun mở đầu câu chuyện về rừng đước của làng bằng một chuyến ghe đưa tôi đi trên con kênh thẳng tắp xuyên rừng đước rậm rạp ra biển khơi. Từ ngoài khơi, những đợt sóng mạnh dập dồn vào vùng rừng đước xanh mướt mắt, dày đặc như một thành luỹ kiên cố bảo vệ ngôi làng. Wisun kể với giọng đầy tự hào: “Trước kia, biển lấn sát đến làng chài trong đất liền, nay đã dạt ra khơi hơn 1.500m và làng chài được che phủ bởi thảm rừng đước dày đặc. Toàn bộ vùng rừng đước tái tạo đất mới của làng lên đến 3.000 rai (tương đương 480ha)”.
Đánh dấu niềm vui
Xem chừng người nghe không mấy tập trung về những con số, Wisun đổi sang nói chuyện khác: “Chúng tôi có những hoạt động gây rừng rất đơn giản nhưng được người làng tích cực hưởng ứng. Làng quy định rằng, mỗi gia đình khi có bất kỳ sự kiện trọng đại vui mừng gì đó, ví dụ sinh con, đám hỏi, đám cưới, con thi đậu đại học… đều đánh dấu niềm vui ấy bằng việc trồng một cây đước trên vùng đất lấn biển của làng. Bên cạnh những hoạt động kiểu gia đình ấy là những hoạt động tập thể hàng tháng, hàng năm của làng đều gắn với việc cả làng ra rừng trồng đước”.
Đi cùng lão ngư Wisun dọc theo vùng bờ biển ở làng Na Thab ngay lúc thuỷ triều lên, chứng kiến những đợt sóng dữ dội từng đợt cuốn vào bờ như nuốt chửng những cây đước nhỏ mong manh mới được trồng, Wisun lý giải thêm: “Trồng đước ở vùng biển bị xâm thực không đơn giản chút nào. Trồng mười cây thì bị sóng dạt hết chỉ còn lại hai cây, nhưng chúng tôi không nản lòng. Dân làng cứ bền bỉ lấn biển, và chia vùng đất trồng đước ra hai khu vực. Những vùng cây lớn làm khu khai thác, cây nhỏ làm khu bảo tồn. “Luật” sử dụng đước của làng là thân đước phải có đường kính trên 5cm, gia đình nào cần hạ một cây đước sử dụng vì bất kỳ mục đích gì phải trồng trả cho làng lại mười cây. Có như thế rừng đước mới dày được như hôm nay”.
Việc trồng rừng không khó bằng câu chuyện quản lý rừng, giữ rừng. Wisun nói: “Rừng đước là của toàn dân làng trồng, ai cũng có phần mình trong đó, nhờ vậy mọi người tự giám sát nhau trong việc khai thác và bảo vệ. Hồi thời gian đầu của 20 năm trước, trong làng cũng chia ra nhiều nhóm khai thác rừng lén lút, kết băng lại với nhau để chống phá những người bảo vệ rừng. Nhưng qua những đợt vận động dai dẳng, bền bỉ hết năm này đến năm khác, chúng tôi phải tìm cách để họ tự tay trồng ở Na Thab một cây đước. Khi rừng đã có phần của họ thì họ chung tay vào bảo vệ thôi”.
Một cây đước lẻ loi sống cách bờ gần 1km – nỗ lực của dân chài Na Thab.
Siêu thị giữa trời
Cả làng Na Thab với hơn 1.000 gia đình thì có đến 60% dân số theo nghề cá, số còn lại khai thác dầu cọ và dừa nước. Ngày trước, khi cây đước bị khai thác cạn kiệt, dân làng bị ảnh hưởng bởi việc đánh bắt ngày càng khó khăn hơn, nguồn cá không còn nơi trú ngụ bỏ đi hết. Người dân dần nhận ra rừng đước như là một siêu thị, nơi mọi người tìm đến nhặt những sản vật họ cần cho cuộc sống hàng ngày. Từ đó họ càng nhận thức rõ hơn rừng đước có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ, nhờ vậy việc trồng rừng được bắt đầu, dù chậm rãi, nhưng ảnh hưởng ngày một rộng hơn.
Người lái đò Dusit cũng là một ngư dân thâm niên của làng Na Thab. Dusit kể về cuộc mưu sinh thường nhật gắn với rừng đước: “Rừng bây giờ vừa là thành luỹ che chở cho làng, vừa là nguồn sống của chúng tôi. Trước kia tôi phải theo tàu lớn đi xa bờ đánh bắt mới có cá. Giờ khá hơn, chỉ cần vào rừng đước đặt câu mỗi ngày 1 – 2 tiếng, mỗi tháng kiếm trung bình 1.200 baht (khoảng 5 triệu đồng), cuộc sống gia đình một vợ và ba con của tôi ở làng chài này như thế cũng ổn rồi. Hồi sinh ba đứa con, tôi và vợ cũng tham gia trồng đước kỷ niệm. Rừng là của làng, rừng là của từng gia đình, của từng người chúng tôi”.
Lão ngư Wisun hồ hởi: “Bây giờ không chỉ là chuyện giữ đất, lấn đất làng ra biển nữa mà rừng còn làm phong phú thêm hệ động vật trong vùng. Những bầy khỉ tự nhiên cũng tìm đến sinh sống, các loài cá, nghêu, sò, cả rắn hổ mang chúa cũng sinh sôi và phát triển mạnh trong vùng rừng này. Cũng nhờ rừng dày thêm mà thảm san hô ngoài khơi của chúng tôi được nhận định là đang phục hồi và phát triển mạnh”.
Tiếp cận những người dân chài bình dị ở Na Thab, chẳng ai quan tâm hay để ý rằng việc trồng rừng, bảo vệ rừng, sử dụng rừng của họ lại chính là kiểu mẫu quốc gia về việc bảo tồn, phát triển và khai thác bền vững rừng ngập mặn. Có nhiều cách để bảo vệ rừng, giữ rừng, lấy đước lấn biển thông qua những hô hào bằng dự án đao to búa lớn xuất hiện. Chuyện này không chỉ riêng ở Thái Lan mà cả những nước trong khu vực. Nhưng hiệu quả của những dự án bài bản ấy thì vẫn còn khá khiêm tốn. Trong khi đó, người dân chài Na Thab tự làm theo cách của họ, một cách làm giản đơn nhưng mang lại hiệu quả.
sgtt.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s