NHỮNG CÁCH THẤY (3)

John Berger
chuyển ngữ : Như Huy

Ngày nay, cách chúng ta thấy nghệ thuật của quá khứ khác hoàn toàn với cách mà chính những con người trong qua khứ thấy nó. Thật sự là chúng ta tri giác theo một kiểu khác. Sự khác biệt này có thể được minh họa qua cách tư duy về phép viễn cận.
Phép viễn cận, tức những gì chỉ có ở nghệ thuật châu Âu và là những gì được thiết lập vào giai đoạn đầu của thời Phục hưng , đặt điểm nhìn trung tâm vào mắt người xem. Người xem ở đây y như thể một ngọn hải đăng. Chỉ khác là với ngọn hải đăng thì tia sáng của nó tỏa đi các hướng, còn với người xem, thì các vẻ dạng từ nhiều hướng lại hội tụ vào điểm nhìn trung tâm là mắt họ. Phép viễn cận này coi các vẻ dạng ấy là thực tại. Phép viễn cận biến mắt người xem thành trung tâm của thế giới khả thị. Đôi mắt người xem thấy hết tất cả, từ những gì gần nhất cho tới những gì xa tít tắp vào vô tận. Thế giới khả thị, giờ đây, trước mắt người xem sẽ được sắp xếp y như thể cái vũ trụ trước kia được sắp xếp trước mắt Thượng đế.

Theo phép viễn cận, tính đối ứng của sự nhìn là không tồn tại. Thượng đế không việc gì phải định vị bản thân trong mối quan hệ thị giác với kẻ khác. Thượng đế chính là toàn bộ khung cảnh. Sự mâu thuẫn cố hữu này của phép viễn cận nằm ở việc nó cấu trúc nên mọi hình ảnh thực tại chỉ nhằm để phục vụ cho người xem, tức kẻ, khác với Thượng đế, lại chỉ có thể ở tại một chỗ vào một thời điểm.


Hình ảnh con người với máy quay phim của Vertov

“Tôi là một con mắt. Một con mắt cơ giới. Tôi, chiếc máy cơ giới, sẽ cho bạn thấy một thế giới theo cách chỉ tôi có thể thấy như thế. Từ giờ cho đến mãi về sau, tôi giải phóng bản thân khỏi đặc tính một-điểm-nhìn của con người. Tôi miên viễn chuyển động. Tôi tiến gần và lùi xa khỏi các đối tượng. Tôi luồn xuống dưới chúng. Tôi chuyển động sát cạnh chiếc mõm phì phò của con ngựa đang chạy. Tôi rơi xuống và bay lên theo các thân thể đang rơi xuống và bay lên. Chính là tôi, chiếc máy cơ giới, tung hoành ngang dọc theo các chuyển động hỗn loạn, thu ghi lại từ chuyển động này tới chuyển động khác trong một tập hợp phức tạp nhất

Giải phóng bản thân khỏi mọi biên giới của không gian và thời gian, tôi có mặt tại mọi điểm nhìn trong vũ trụ này , ở bất kỳ nơi nào tôi muốn. Cách thấy của tôi dẫn đến sự sáng tạo ra một cách tri giác tươi mới về thế giới. Qua đó, tôi tường giải theo một cách mới mẻ về một thế giới mà bạn chưa bao giờ biết”

( Đoạn trích trên đây là từ một tiểu luận viết năm 1923 của Dziga Vertov, đạo diễn Sô Viết)

Chiếc máy ảnh giúp chia nhỏ các vẻ dạng theo từng khoảnh khắc khác nhau và khi làm thế, nó tàn phá đi cái ý tưởng rằng hình ảnh là điều gì đó phi thời. Hay, nói cách khác, chiếc máy ảnh cho thấy rằng ý niệm về sự trôi qua của thời gian không thể tách rời khỏi kinh nghiệm về cái khả thị (Với hội họa thì ngược lại) . Những gì ta thấy phụ thuộc vào nơi chốn và thời điểm ta thấy. Những gì ta thấy sẽ thay đổi theo vị trí của ta trong thời gian và không gian. Và như thế, việc tưởng tượng rằng tất cả mọi thứ đều đồng quy vào đôi mắt người, như thể một điểm trung tâm, đã không còn hiệu lực.

Tuy nhiên, điều này không phải để nói rằng trước khi sáng chế ra máy ảnh người ta đã tin rằng họ có thể thấy được mọi thứ (từ điểm nhìn trung tâm) Song phép viễn cận đã tổ chức thế giới thị giác gần tới mức lý tưởng. Mọi bức tranh vẽ nét hay tranh sơn dầu có áp dụng phép viễn cận đều đề nghị với người xem rằng anh ta chính là trung tâm tuyệt đối của thế giới. Chiếc máy ảnh- và chính xác hơn là chiếc máy quay phim- đã chứng minh rằng thế giới hoàn toàn không có trung tâm.

Sự sáng chế ra chiếc máy ảnh đã thay đổi cách con người thấy sự vật. Cái khả thị giờ đây trở nên điều gì đó khác hẳn với bản thân nó trong thực tại. Và điều này được phản ánh lập tức trong hội họa.

Với các nhà Ấn tượng, cái khả thị đã không còn hiện ra trước mắt con người một cách khách quan. Trái lại, cái khả thị, trong sự rung động không ngừng của nó, đã trở nên điều gì đó mà họa sĩ phải liên tục đuổi theo và nắm bắt (với các nhà Ấn tượng, thực tại đã không còn như những gì mắt ta nhìn thấy nữa. Nó trở nên một địa bàn của các sự tương tác của ánh sáng, của độ nóng lạnh, luôn thay đổi theo những thời khắc khác nhau trong ngày-ND)


Bức tranh “Ấn tượng mặt trời mọc”, thuộc chủ nghĩa Ấn tượng của họa sĩ Monet

Với các nhà lập thể, cái khả thị không còn là điều xuất hiện trước mắt họ trong duy nhất một chiều không gian, tuân theo một hướng nhìn duy nhất của họa sĩ. Thay vào đó, nó là tổng thể của các hướng nhìn có thể có vòng quanh vật thể ( hay nhân vật) được vẽ.


Bức tranh Still life with wicker chair thuộc chủ nghĩa lập thể của họa sĩ Picasso

Sự sáng chế ra máy chụp ảnh cũng thay đổi cách chúng ta thấy bức tranh. Vào lúc khởi đầu, các bức tranh đã được coi là một phần gắn bó hữu cơ với tòa nhà, nơi chúng được đặt vẽ. Đôi khi, trong các nhà thờ hay giáo đường thuộc giai đoạn đầu của thời Phục hưng, người ta có cái cảm xúc rằng các hình ảnh trên tường chính là những gì thu ghi lại đời sống bên trong các tòa nhà đó, tức những gì cùng với tòa nhà ấy, tạo nên ký ức về bản thân tòa nhà- nhiều tới mức trở nên bộ phận không thể tách rời khỏi đặc tính riêng biệt của tòa nhà



Nhà thờ Thánh Francis tại Assisi

Tính duy nhất của mỗi bức tranh từng là bộ phận của tính duy nhất của địa điểm trưng bày bức tranh đó. Đôi khi bức tranh vẫn có thể được đem đi nơi khác, song nó sẽ không bao giờ được thấy ở cả hai nơi một lúc. Khi chiếc máy ảnh tái sản một bức tranh, nó cũng theo đó tàn phá luôn tính duy nhất của hình ảnh trong bức tranh. Và kết quả là nghĩa của bức tranh đã thay đổi. Hay nói chính xác hơn, nghĩa của bức tranh đã được đa bội hóa và chia nhỏ làm nhiều mảnh và thành nhiều nghĩa khác nhau

Điều này được minh họa một cách sống động qua những gì xảy ra khi một bức tranh được chiếu trên truyền hình. Bức tranh giờ đây đi vào mọi căn nhà khác nhau, nằm giữa các bức tường với giấy dán tường khác nhau, các đồ nội thất khác nhau, các đồ lưu niệm khác nhau. Nó được thấy trong một khí hậu gia đình. Nó trở nên đề tài trao đổi trong gia đình. Nó đánh mất nghĩa của nó vào nghĩa của tất cả những điều ấy. Cùng lúc, nó lại đi vào hàng triệu căn nhà khác nhau, và trong mỗi căn nhà đó, nó được thấy trong mỗi văn cảnh khác nhau. Nhờ vào chiếc máy chụp ảnh, bức tranh giờ đây đã chu du tới với người xem chứ không phải là người xem tìm đến với nó. Và trong chuyến chu du của nó, bản thân nghĩa của nó đã được đa dạng hóa.

Người ta có thể lý luận rằng mọi sự tái sản điều ít nhiều xuyên tạc bản gốc, và rằng, vì lý do này, nhìn một cách nào đó, bức tranh gốc vẫn sở hữu một tính duy nhất. Dưới đây là bức hình in lại tác phẩm Virgin of the Rocks của Leonardo da Vinci


Bức tranh Virgin of the rocks của Leonardo da Vinci( 1452-1519). Đây là bức tranh trưng bày tại bảo tàng quốc gia London. Tuy nhiên, các sử gia nghệ thuật Pháp lại muốn chứng minh ngược lại rằng, bản trưng bày ở Louvre mới là bản gốc.

Sau khi xem bức hình này, người ta có thể đi thẳng tới Bảo tàng quốc gia để nhìn lại bản gốc và tìm ra những gì mà bức hình không có được. Hoặc ngược lại, với những ai đang xem bức tranh gốc, họ sẽ không việc gì phải băn khoăn về chất lượng của bức hình, mà chỉ đơn giản nhớ lại rằng đây là một bức tranh nổi tiếng mà họ từng xem bức hình chụp lại nó ở đâu đó. Tuy nhiên trong cả hai trường hợp này, tính duy nhất của bản gốc giờ đây đều nằm ở việc đó chỉ là là một bản gốc trong mối quan hệ so sánh với bản tái sản. Hình ảnh (nội dung) trong bức tranh gốc giờ đây không còn là nguyên nhân cho tính duy nhất của bức tranh nữa; có nghĩa là, nghĩa tiên khởi của bức tranh không còn nằm ở nội dung của nó, mà ở chính sự tồn tại của nó.

Trạng thái mới mẻ này của tác phẩm gốc chính là hệ quả rất hợp lý do các phương tiện tái sản mới mẻ tạo ra. Song, cũng chính tại điểm này mà rồi một tiến trình huyền thoại hóa kiểu mới đã xuất hiện. Ý nghĩa của tác phẩm gốc không còn nằm trong nội dung duy nhất của nó, mà trong sự tồn tại duy nhất của nó. Vậy sự hiện hữu duy nhất này của tác phẩm gốc được định nghĩa và định giá trị ra sao trong nền văn hóa hiện tại? câu trả lời là; nó được định nghĩa trong vai trò một vật thể mà giá trị của vật thể ấy phụ thuộc vào sự hiếm hoi của nó. Giá trị này được xác nhận và định chuẩn mực thông qua giá cả mà vật thể ấy thu được tại thị trường. Song, bởi là một “tác phẩm nghệ thuật”- và nghệ thuật thì lại được coi là lớn lao hơn tiền bạc- giá trị thị trường của vật thể nào đó sẽ được đồng hóa với giá trị tinh thần của nó.

Tuy nhiên, giá trị tinh thần của một vật thể, không giống với một thông điệp, hay một răn dạy, chỉ có thể được tường giải nhờ vào phép ma thuật hay tôn giáo. Và bởi trong xã hội hiện đại, tất cả quyền lực ma thuật hay tôn giáo không thể tồn tại, vật thể nghệ thuật, “tác phẩm nghệ thuật” sẽ được bao quanh bằng một khí hậu của một đặc tính tôn giáo giả dạng. Muốn được trở thành di vật linh thánh; tức các di vật là bằng cớ đầu tiên và trước nhất về sự sống sót của bản thân nó qua thời gian, quá khứ của vật thể nào đó sẽ được nghiên cứu để chứng minh cho sự thuần thực của nó. Và rồi vật thể ấy sẽ được tuyên bố là nghệ thuật vào lúc mối quan hệ huyết thống của nó với tổ tiên được xác nhận.

Khi xem bức tranh Virgin of the Rocks, người xem tại Bảo tàng quốc gia sẽ còn được khuyến dụ bởi gần như mọi điều anh ta có lẽ đã nghe và đọc về bức tranh, để rồi sẽ có một cảm xúc kiểu như sau:” Tôi đang ở trước nó. Tôi đã thấy được nó. Bức tranh này của Leonardo da Vinci không giống bất kỳ bức nào khác trên thế giới. Bức này tại bảo tàng quốc gia là bức tranh thật. Nếu xem xét kỹ lưỡng bức tranh, tôi sẽ có khả năng cảm nhận được tính chứng thực của nó. Bức tranh Virgin of the Rocks của Leonardo de Vinci- bởi vì nó là bức tranh thực, thế nên nó đẹp”

Cho rằng kiểu cảm xúc này là ngây thơ thì thật sai lầm. Chúng vừa vặn hoàn hảo với nền văn hóa nhân tạo tinh vi của các chuyên gia nghệ thuật, mà vựng tập của bảo tàng quốc gia là được viết cho họ. Mục về bức tranh Virgin of the Rocks của Leonardo da Vinci là một trong những mục dài nhất. Nó bao gồm 14 trang in cận cảnh. Tất cả các trang in này đều không quan tâm tới nội dung của hình ảnh. Điều chúng quan tâm là về việc ai đã đặt vẽ bức tranh, các cuộc tranh luận về bức tranh, ai là kẻ sở hữu nó, ngày tháng nó được vẽ, gia đình của các sở hữu chủ. Phía sau thông tin này phải là hàng năm trời nghiên cứu. Mục đích đầu tiên của các nghiên cứu này là để chứng minh cho mọi nghi ngờ rằng đây không phải là bức tranh của Leonardo de Vinci. Và mục đích thứ hai của chúng là nhằm chứng minh rằng bức tranh giống gần như y hệt với bức tranh này, hiện đang treo ở bảo tàng Louvre, chỉ là một bức tranh chép lại chính bức tranh này mà thôi.


Bức tranh Virgin of the rocks trưng bày tại bảo tàng Louvre

Số lượng những tấm bưu ảnh chụp lại bức phác thảo The Virgin and Child with St Anne and St John the Babtist do bảo tàng quốc ra bán ra nhiều hơn bất cứ hình ảnh về bất kỳ tác phẩm nào khác trong bộ sưu tập của bảo tàng. Lý do cho việc này là bởi một người Mỹ đã muốn mua bức đó với giá hai triệu rưỡi bảng.


The Virgin and Child with St Anne and St John the Babtist

Giờ đây, nó được treo tại một phòng riêng. Căn phòng trông giống một thánh đường. Bức vẽ nét này được bảo quản trong một hộp kính chống đạn. Nó tạo ra một kiểu ấn tượng mới. Và việc nó tạo ra ấn tượng, rồi trở thành huyền thoại, không phải bởi điều nó thể hiện ra, tức bởi nội dung của nó, mà bởi giá trị thị trường của nó

Tính tôn giáo giả dạng giờ đây bao bọc quanh tác tác phẩm gốc, tức điều phụ thuộc hoàn toàn vào giá trị thị trường của các tác phẩm gốc ấy, đã thay thế cho những gì mà bức tranh bị mất đi vào lúc chiếc máy chụp ảnh tạo cho nó khả năng có thể được tái sản hàng loạt. Tính tôn giáo giả dạng ở đây là không khí hương xưa. Và đây chính là đòi hỏi vô nghĩa cận thời nhất về sự tiếp nối của các giá trị do một nền văn hóa phi dân chủ và tập quyền đặt ra. Bởi hình ảnh giờ đây đã không còn sở hữu tính chất duy nhất và độc quyền, các vật thể nghê thuật, hay bản thân vật thể, sẽ được huyền thoại hóa để có lại các tính chất ấy.
(Như Huy dịch từ: Ways of Seeing, John Berger, Peinguin Books published 2008)


huybeo.blogspot.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s