TẶNG VẬT CỦA TRỜI

tiểu thuyết của Nguyễn Thanh Hiện

mười bốn.
gia phả bằng đất.
    Cái gò hoang rộng thênh thang nằm giữa đồng làng vẫn cứ là gò hoang trong bao niên kỷ. Người ta không thể nào xóa bỏ nó ( hoặc là làm đất gieo trồng, hoặc là làm đất ở) bỡi xóa bỏ nó là xóa bỏ tổ tiên. Dân làng không đông, nhưng có đến mấy chục cánh họ, mỗi cánh họ thì sở hữu một sự tích về tổ tiên mình, tức sự tích về những kẻ đã yên nghỉ ở cái gò hoang ấy, có kẻ yên nghỉ vài ba trăm năm trước, có kẻ yên nghỉ cả nghìn năm trước. Có nghĩa hiện tại gò là gò hoang, tức chẳng còn trông thấy mồ mả chi nữa.

    Ông già hậu duệ của một cánh họ nói với chúng tôi rằng ông tổ mấy chục đời dòng họ nhà ông muốn qua sông thì cứ ngửa nón ra ở trên mặt nước mà làm sõng, muốn bắt lũ cô hồn thì chỉ cần phồng má lên, hét một tiếng, là lũ chúng phải chường mặt ra. Tức là thầy phù thủy? Tôi hỏi. Không phải, là pháp sư. Ông không chịu gọi là phù thủy. Đánh nhau mãi với lũ ma quỉ, sức mòn dần, rồi chết. Ông nói. Gia phả có ghi rõ là chết chôn ở cái gò hoang? Ông già có vẻ ngơ ngác khi nghe nàng hỏi đến chuyện gia phả. Về sau chúng tôi mới biết ở làng ấy chẳng có nhà nào có gia phả. Tất cả những chuyện về tổ tiên đều là truyền miệng.
    Có một cánh họ là hậu duệ của một vị anh hùng hảo hán. Ông Hai Mươi. Ông chết chôn ở cái gò hoang ấy, nên cái gò ấy còn gọi là gò Ông Hai Mươi. Đã làm những gì để được gọi là anh hùng hảo hán? Tiêu diệt toàn bộ đám cọp trên dải núi phía nam làng. Lần này là một bà lão mù, con cháu mấy chục đời vị anh hùng hảo hán, kể cho chúng tôi nghe sự tích này. Thuở ấy cọp ở núi ấy nhiều lắm, hầu như đêm nào cũng xuống làng bắt người. Ở trong làng có một người giỏi võ nghệ, được tổ tiên truyền cho thế võ cỡi lưng cọp, đã lãnh việc vào núi diệt cọp. Một ngày ít nhất là ông leo lên lưng cọp một lần. Mà đã leo lên lưng cọp rồi, thì coi như con cọp ấy  phải chết. Cuối cùng là ông đã giết hết cọp trên núi. Theo lời bà lão thì bà đã bị mù trong bụng mẹ, tức chỉ tiếp nhận thế giới bằng tai. Nên chúng tôi biết chắc là bà lão đã kể đúng những gì cha ông bà truyền lại. Cuối cùng là vị anh hùng hảo hán đã bỏ thây trên núi. Có tên là ông Hai Mươi vì cuối cùng người ta chỉ tìm được hai mươi mảnh xương của ông đem về chôn ở cái gò hoang ấy.  
    Nằm yên nghỉ nơi gò hoang ấy còn có một vị vua ngu. Một hậu duệ của vị vua ấy có vẻ ái ngại khi biết chúng tôi có vẻ tò mò muốn biết sao lại gọi vua ngu. Nói chuyện cây cỏ thì tôi rành hơn là chuyện đời xưa. Ông thầy hốt thuốc nam, hậu duệ của vị vua ngu, có ý từ chối khéo. Nhưng khi bà vợ ông chỉ xen vào một câu rằng mong các nhà báo lên tiếng giúp về chuyện người ta sắp phá bỏ cái gò hoang, thì ông lập tức trút bỏ thái độ e dè, bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về những khác thường của tổ tiên mình. Lời truyền tổ phụ nhà tôi làm nghề thuốc nam thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa, bỡi mào đầu một bài thuốc gia truyền là câu tổ phụ ta đang làm công việc lấy cỏ cây của trời đất để chữa bệnh cho người thì bỗng có lệnh đi chữa bệnh cho con vua. Lời truyền tổ phụ nhà tôi từng làm vua là không còn nghi ngờ gì nữa, bỡi bên dưới một bài thuốc gia truyền có chú rằng đây là bài thuốc tổ phụ nhà ta đã chữa cho con gái vua khỏi bệnh, và đã được truyền  ngôi vua.  Ông thầy thuốc nam, hậu duệ vị vua ngu, chỉ  nói cho chúng tôi biết có một vị vua như thế đã yên nghỉ nơi gò hoang ấy, còn tại sao gọi vua ngu là do người làng giải thích. Làm vua được mấy hôm thì chợt nhớ là chưa truyền cho con cháu những bài thuốc bí truyền, bèn bỏ ngai vàng, trở về quê, tiếp tục việc làm thuốc, nên người đời kẻ cho là  khác thường, kẻ bảo là ngu, một ông vua ngu.
    Kỳ quặt nhất là chuyện rước Phật. Vì thấy người làng cơ cực quá, ông tổ bốn mươi chín đời nhà ấy đã bứt ra đi tìm Phật. Mấy năm sau có vị khách lạ đến làng xưng là Phật sống, muốn giúp cho dân làng thoát khổ nghèo theo yêu cầu của một người vốn là dân làng ấy. Thấy vị khách mặc áo nâu sồng, chân không dép guốc, lại tả hình dạng người mình gặp là hình dạng của ông tổ bốn chín đời nhà ấy, nên dân làng tin là Phật sống thật, dù vị Phật ấy lại có râu. Cái gò hoang giữa đồng làng là nơi Phật giảng cho dân làng hiểu đời là biển khổ, và do đâu mà khổ. Tức giảng thuyết tứ diệu đế. Mưa nắng vẫn cứ tiếp tục nối nhau. Và dân làng vẫn vừa cày ruộng vừa nghe Phật thuyết giảng. Cho đến lúc mọi người đều thấu hiểu lẽ vi diệu của Phật pháp, thì cuộc sống  vẫn cứ còn cơ cực. Hết thảy nỗi khổ của thế gian này hãy để cho mỗi mình ta gánh chịu. Một hôm vị Phật sống đã tuyên bố như thế. Và cùng làm lụng với mọi người. Rồi cũng đến ngày Phật phải ra đi. Trong lúc dân làng đang chờ đợi  một điều kỳ diệu nào đó sẽ xảy ra trong giờ phút viên tịch của Phật, thì cũng là lúc người ta phát hiện ra rằng vị Phật sống và kẻ đi tìm Phật là một. Là do khi khâm liệm Phật, bộ râu kia đã rời khỏi khuôn mặt người chết, nên người ta mới biết đó là ông tổ bốn mươi chín đời của nhà đó. 
    Cái gò hoang đó không phải là cái gò bình thường, mà là gò Phật, gò Vua… nơi yên nghỉ của những con người nếu muốn nói là khác thường hay phi thường cũng được. Khi kể ra những sự tích đó là người làng muốn nói với chúng tôi, mà họ vẫn đinh ninh là những nhà báo của chính phủ, rằng cái gò hoang là bản gia phả chung của các dòng họ trong làng, rằng những thế kỷ đã trôi qua, các dòng họ đó vẫn giữ gìn bản gia phả đó như giữ gìn dòng máu tộc họ của mình.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s