ĐỒ VẬT (PHẦN 1, CHƯƠNG 2)

tiểu thuyết của Georges Perec
chuyển ngữ : Hoàng Hưng

PHẦN 1
Chương II
Họ sẽ thích được giàu có. Họ tin là họ sẽ biết làm người giàu. Họ sẽ biết ăn mặc, nhìn ngó, mỉm cười như những người giàu. Họ sẽ có sự tế nhị, kín đáo cần thiết. Họ sẽ quên đi sự giàu có của họ, sẽ biết chẳng phô nó ra. Họ sẽ không vinh hạnh về nó.
Họ sẽ hít thở sự giàu có. Những thú vui của họ sẽ mãnh liệt. Họ sẽ thích đi bộ, thơ thẩn, chọn lựa, đánh giá. Họ sẽ thích sống. Cuộc sống của họ sẽ là một nghệ thuật sống.

Những việc ấy chẳng dễ dàng, ngược lại là khác. Ðối với đôi lứa trẻ tuổi này, không giàu nhưng thèm khát được giàu chỉ vì họ không nghèo, không có tình thế nào kém tiện lợi hơn thế. Họ chỉ có những gì họ xứng đáng được. Trong khi đã mơ tưởng không gian, ánh sáng, sự tĩnh lặng, thì họ bị ném trở lại thực tế, cái thực tế tuy không ảm đạm nhưng chỉ đơn giản là thiển cận – và có thể như thế lại tệ hơn – của chỗ ở chật hẹp, những bữa ăn hàng ngày, những kỳ nghỉ èo uột của họ. Ðó là những gì tương hợp với tình trạng kinh tế, vị trí xã hội của họ. Ðó là thực tế của họ, và họ không có thực tế nào khác. Nhưng vẫn có đấy, bên cạnh họ, khắp xung quanh họ, khắp dọc những con phố mà họ không thể không bước qua, những lời mời chào gian xảo tuy nhiên lại quá nồng nhiệt của những người bán đồ cổ, bán thực phẩm khô, bán giấy. Từ Hoàng Cung đến khu Saint-Germain, từ vườn Champs-de-Mars đến quảng trường Ngôi Sao, từ vườn Luxembourg đến khu Montparnasse, từ đảo Saint-Louis đến khu Marais, từ đại lộ Ternes đến Nhà Hát Nhạc Kịch, từ khu nhà thờ Madeleine đến công viên Monceau, toàn bộ Paris là một sự cám dỗ liên miên. Họ bừng bừng, say sưa, muốn ngã gục lập tức và mãi mãi. Nhưng chân trời ham muốn của họ bị bịt kín một cách không thương tiếc; những mơ mộng lớn lao bất thể có của họ chỉ thuộc về không tưởng.

Họ sống trong một căn hộ bé xíu và thú vị, trần thấp, trông ra một cái vườn. Khi nhớ lại căn phòng mạt hạng của họ – một hành lang tối và hẹp, nóng như thiêu, với những mùi kinh niên – thì thoạt đầu họ sống ở đây trong một trạng thái có thể nói là say sưa, sự say sưa mỗi sáng được làm mới lại nhờ tiếng chim chiêm chiếp. Họ mở các cửa sổ, và trong những phút dài hoàn toàn sung sướng, họ ngắm mảnh sân của mình. Ngôi nhà cũ kỹ, còn chưa xiêu vẹo nhưng hư nát, nứt nẻ. Các hành lang và cầu thang hẹp và bẩn, ẩm nhớp, ám khói nhờn nhụa. Song giữa hai cái cây và năm mảnh vườn nhỏ xíu hình dạng xiên xẹo, phần lớn bị bỏ bê, nhưng giàu những thứ cỏ lạ, những hoa trong chậu, những bụi cây thấp, cả những bức tượng ngây ngô, có một lối đi rải những tấm đá lát xiên xẹo đem đến cho toàn cảnh một vẻ đồng quê. Ðó là một trong những chốn hiếm hoi ở Paris mà một số ngày trong mùa thu, sau mưa, có thể có được từ đất dâng lên một cái mùi có thể nói là mạnh mẽ của rừng, của mùn, của lá rữa.

Không bao giờ những sự quyến rũ ấy làm họ chán, và họ sống ở đấy lúc nào cũng nhạy cảm bồng bột như những ngày đầu tiên, nhưng sau vài tháng hoan hỉ vô lo quá mức, đã thấy rõ là chúng không thể đủ để làm họ quên đi những khiếm khuyết của chỗ ở của mình. Ðã quen sống trong những căn phòng độc hại mà họ chỉ có mỗi việc ngủ trong đó, và quen qua ngày trong những quán cà-phê, phải mất thời gian dài họ mới nhận ra rằng những chức phận tầm thường nhất của đời sống hàng ngày – ngủ, ăn, đọc, tán chuyện, tắm rửa – đòi hỏi mỗi việc một không gian chuyên biệt, mà từ lúc ấy họ bắt đầu cảm thấy thiếu rõ ràng. Họ hết sức tự an ủi, lấy làm mừng vì sự xuất sắc của khu vực, về sự lân cận với phố Muffetard và Vườn Bách Thảo, về sự bình lặng của con phố, về nét độc đáo của những trần nhà thấp, và về vẻ huy hoàng của cây cối và mảnh sân trong suốt các mùa; nhưng, ở bên trong, tất cả bắt đầu oằn xuống dưới những chồng đống đồ vật, đồ đạc, sách vở, đĩa bát, giấy má, vỏ chai rỗng. Một cuộc chiến tranh tiêu hao bắt đầu mà chẳng bao giờ họ ra khỏi với tư cách kẻ chiến thắng.

Trên một diện tích tổng cộng ba mươi lăm mét vuông, mà họ chẳng bao giờ dám xác minh, căn hộ của họ gồm có một lối vào nhỏ xíu, một bếp ăn chật hẹp mà một nửa đã được thu xếp làm buồng tắm, một căn phòng kích thước khiêm tốn, một gian để làm đủ thứ – thư viện, phòng ngoài hay phòng làm việc, buồng tiếp bạn bè – và một góc khó định nghĩa, dở buồng xép dở hành lang, thành ra chiếm chỗ ở đó là một tủ lạnh cỡ nhỏ, một ấm đun nước điện, một tủ treo áo tạm bợ, một cái bàn ngồi ăn cơm, và một cái hòm đựng quần áo bẩn mà họ cũng dùng làm ghế dài.

Có những ngày sự thiếu không gian trở nên bạo ngược. Họ ngạt thở. Nhưng hoài công đẩy lui giới hạn của hai gian phòng, hạ bỏ các tường, gợi nghĩ đến những hành lang, những tủ âm tường, những lối thoát, hình dung những tủ treo áo thời trang, sáp nhập trong mơ những căn hộ lân cận, cuối cùng bao giờ họ cũng lại thấy mình trong những gì là số phận, số phận duy nhất của họ: ba mươi lăm mét vuông.

Chắc đã có thể có những sự sắp xếp sáng suốt: một vách ngăn có thể bỏ đi, giải phóng một góc rộng sử dụng chưa đúng mức, một món đồ quá lớn có thể được thay thế một cách có lợi, một loạt tủ âm tường có thể xuất hiện. Khi đó, chắc là chỉ cần được sơn phết lại, cạo rửa lại, sắp xếp lại một chút với một ít tình yêu, chỗ ở của họ đã thú vị một cách không thể bàn cãi, với cửa sổ treo rèm đỏ và cửa sổ treo rèm xanh, với chiếc bàn dài bằng gỗ sồi, hơi rung rinh, mua ở chợ trời, chiếm cả chiều dài một tấm ván vách, bên dưới phiên bản rất đẹp của một tấm bản đồ các hải cảng, mà một cái hộp đựng bút có rèm che kiểu Ðệ Nhị Ðế Chế bằng gỗ dái ngựa khảm các thanh đồng, nhiều thanh đã mất, chia thành hai chỗ làm việc, Sylvie bên trái, Jérôme bên phải, mỗi bên được đánh dấu bằng cùng một tấm lót tay có giấy thấm, cùng một viên gạch thủy tinh, cùng một ống đựng bút như nhau; với cái liễn bằng thủy tinh nhận thiếc đã được biến thành đèn, với cái thùng mười lít đựng hạt bằng gỗ bóc gia cố kim loại được dùng làm làn đựng giấy, với hai chiếc ghế bành cọc cạch, những ghế tựa nhồi rơm, chiếc ghế đẩu nhà quê. Và từ tổng thể sạch sẽ và gọn ghẽ, khéo léo, đã bốc lên một hơi ấm thân ái, một khung cảnh dễ mến cho sự làm việc và chung sống.

Nhưng chỉ nghĩ đến những việc phải làm là họ đã hãi hùng. Họ sẽ phải vay mượn, tiết kiệm, đầu tư. Họ không cam chịu thế. Lòng họ không muốn thế: họ chỉ suy nghĩ theo kiểu có thì có tất không thì không tất. Tủ sách phải là gỗ sồi màu sáng hoặc là không. Thì không có tủ sách. Sách xếp chồng trên hai cái giá bằng gỗ bẩn và xếp hai hàng trong những tủ âm tường lẽ ra chẳng bao giờ dành cho chúng. Trong suốt ba năm, một ổ cắm điện vẫn chập choạng mà họ quyết định không kêu thợ điện tới, trong khi trên gần như khắp các tường chạy những đường dây có những mối nối xoắn thô thiển và những đoạn nối thêm chướng mắt. Phải mất sáu tháng để họ thay một sợi dây kéo rèm. Và sự bất lực nhỏ nhất trong việc bảo trì hàng ngày thể hiện ra suốt hai mươi bốn giờ thành một tình trạng bừa bãi mà sự hiện diện tốt lành của cây cối và vườn tược gần ngay đó càng khiến người ta không chịu nổi.

Tình trạng tạm bợ, statut quo, [1] ngự trị với tư cách chủ nhân tuyệt đối. Họ chỉ còn chờ đợi một phép lạ. Lẽ ra họ phải kêu tới các kiến trúc sư, nhà thầu, thợ nề, thợ đặt ống, thợ thảm, thợ sơn. Họ sẽ đi du lịch bằng đường biển và khi trở về sẽ thấy một căn hộ biến đổi, được thu xếp lại, được làm mới, một căn hộ kiểu mẫu , được nới rộng một cách kỳ diệu, đầy những chi tiết hợp với kích thước của nó, những vách ngăn tháo lắp, những cửa kéo, một phương tiện sưởi ấm hữu hiệu và kín đáo, một hệ thống điện chạy ngầm, những đồ đạc tốt.

Nhưng giữa những mộng mơ quá lớn mà họ chìm đắm vào một cách khoan khoái lạ lùng, với sự vô hiệu của những hành động thực tế của họ, không xen vào nổi một dự án hợp lý nào hòa giải những nhu cầu khách quan với khả năng tài chính của họ. Sự mênh mông của những ham muốn làm họ tê liệt.

Sự thiếu giản dị và gần như thiếu tỉnh táo là đặc trưng. Sự thoải mái – chắc cái này là nghiêm trọng nhất – là điều họ thiếu ghê gớm. Không phải sự thoải mái về vật chất, có tính khách quan, mà một sự phóng túng nào đó, một sự thư giãn nào đó. Họ có xu hướng bị kích thích, bị bực bội, ham hố, gần như ghen tức. Tình yêu của họ đối với sự sung túc, sung túc hơn nữa, thể hiện thường xuyên nhất qua tính thích lôi kéo rủ rê ngốc nghếch: những lúc đó họ diễn thuyết rất lâu, họ và bạn bè họ, về cái thần tình của một tẩu thuốc hay một chiếc bàn thấp, họ biến chúng thành những đồ mỹ thuật, những hiện vật bảo tàng. Họ sôi lên vì một chiếc va-li – những chiếc va-li nhỏ xíu, dẹp lép một cách khác thường, bằng da đen thuộc hơi nổi hạt mà người ta trông thấy trong tủ kính các cửa hàng ở khu nhà thờ Madeleine, và như thể tập trung trong chúng tất cả những lạc thú giả định của những chuyến du lịch chớp nhoáng đến New York hay London. Họ băng qua cả Paris để xem một chiếc ghế bành mà người ta bảo với họ là hoàn hảo. Và thậm chí, biết rõ những thị hiếu quen thuộc của mình, đôi khi họ vẫn ngần ngừ khi mặc một trang phục mới, mặc dù do dáng vẻ tuyệt vời, nó có vẻ quan trọng với họ đến mức thoạt tiên đã được mặc tới ba lần. Nhưng những cử chỉ hơi làm ra thiêng liêng của họ khi tỏ nhiệt tình trước tủ kính của một tiệm may, một tiệm mũ phụ nữ, hay một tiệm giày, thường chỉ đi đến chỗ làm cho họ thành hơi lố bịch.

Có thể họ đã bị đánh dấu quá mức bởi quá khứ của mình (vả lại không chỉ riêng họ, mà cả các bạn hữu, đồng nghiệp của họ, những người cùng lứa tuổi họ, thế giới mà trong đó họ đầm mình). Có thể ngay lập tức họ đã quá háo hức: họ muốn đi quá nhanh. Lẽ ra phải để thế giới, để mọi vật lúc nào cũng thuộc về họ, và họ phải nhân lên mãi những dấu hiệu của sự sở hữu. Nhưng họ đã bị bức bách phải chinh phục: lẽ ra họ có thể trở nên ngày càng giàu có; đàng này họ lại chỉ có thể làm như họ đã luôn luôn giàu có. Lẽ ra họ phải thích sống trong tiện nghi, trong cái đẹp. Nhưng họ lại reo lên, họ ngưỡng mộ, đó là bằng chứng chắc chắn nhất cho biết họ không giàu.

Truyền thống – theo nghĩa đáng khinh nhất của thuật ngữ ấy, có lẽ thế – là cái họ thiếu, sự hiển nhiên, sự hưởng thụ chân chính, ẩn tàng, tự tại, cái đi cùng với một hạnh phúc của cơ thể, trong khi đó lạc thú của họ lại mang tính thuần trí. Quá thường xuyên, trong cái mà họ gọi là sự xa hoa, họ chỉ yêu có tiền bạc ở phía sau nó. Họ không cưỡng nổi trước những dấu hiệu của sự giàu có; họ yêu sự giàu có trước khi yêu cuộc sống.

Từ quan điểm ấy thì những cuộc xuất hành đầu tiên của họ ra khỏi thế giới sinh viên, những chuyến du hành đầu tiên của họ trong cái vũ trụ các cửa hàng sang trọng ấy, cái vũ trụ không chậm trễ để trở thành Ðất Hứa của họ, đã mang tính khải thị đặc biệt. Thị hiếu hãy còn mập mờ của họ, sự đắn đo quá tỉ mẩn của họ, sự thiếu kinh nghiệm của họ, sự kính trọng hơi thiển cận những gì mà họ tin là những tiêu chuẩn của thị hiếu thật sự tốt, khiến họ phải chịu vài lời bình phẩm sai lầm, vài sự ê chề. Có một lúc có thể dường như cái mốt quần áo mà Jérôme và bạn bè anh chạy theo đã chẳng phải mốt quí phái Ăng-lê mà là bản biếm họa rất lục địa của nó do một di dân mới toanh có đồng lương khiêm tốn trưng ra. Và cái ngày Jérôme mua đôi giày Ăng-lê đầu tiên của anh, sau khi chà rất lâu, bôi từng tý một cách tế nhị theo các vòng đồng tâm, với một giẻ lau bằng len tẩm xi hảo hạng, anh đã cẩn thận đem phơi ra nắng, nghĩ rằng như thế nó sẽ có được độ bóng đặc biệt một cách nhanh nhất. Ngoài một đôi giày da mộc có ống thô nặng và đế bằng crêp mà anh nhất định không chịu mang, đó là đôi giày duy nhất của anh, anh lạm dụng nó, lê nó trên những con đường sụt lở, và phá hỏng nó trong vòng chưa đầy bảy tháng.

Thế rồi, nhờ tuổi tác, nhờ những kinh nghiệm tích lũy được, rõ là họ có lui lại một chút so với những cơn nhiệt thành kịch phát nhất của họ. Họ đã biết chờ đợi, và quen dần. Thị hiếu của họ hình thành chầm chậm, chắc chắn hơn, điềm tĩnh hơn. Những ham muốn của họ đã có thời gian để chín; sự thèm thuồng của họ trở nên ít dằn dọc hơn. Trong lúc đi dạo ở vùng ven Paris, dừng lại ở tiệm đồ cổ trong làng, họ không còn xô tới những chiếc đĩa sứ, những chiếc ghế nhà thờ, những lọ kẹo bằng thủy tinh thổi, những chân đèn bằng đồng. Tất nhiên trong hình ảnh hơi tĩnh tại mà họ vẽ nên về ngôi nhà kiểu mẫu, về tiện nghi hoàn hảo, về cuộc sống hạnh phúc, vẫn còn nhiều cái ngây ngô, nhiều cái theo chiều: họ cực kỳ yêu thích những đồ vật mà thị hiếu tức thời duy nhất bảo là đẹp: những bức hình Épinal giả kia, những tranh khắc kiểu Anh kia, những viên mã não kia, những chiếc cốc thủy tinh tinh xảo kia, những đồ tầm tầm tân-barbare [2] kia, những thứ linh tinh giả-khoa-học kia, mà trong một thời gian rất ngắn họ tìm thấy ở tất cả những mặt hàng của phố Jacob, phố Visconti. Họ vẫn còn mơ tưởng sở hữu; lẽ ra họ phải thỏa mãn cái nhu cầu tức thời, hiển nhiên ấy: đúng mốt, được coi là kẻ sành sỏi. Nhưng sự quá đáng có tính cách bắt chước ấy ngày càng bớt quan trọng, và họ thấy khoan khoái khi nghĩ rằng cái hình ảnh mà mình tự vẽ nên về cuộc sống đã từ từ vứt bỏ được tất cả những gì có thể là hung hăng, hào nhoáng, đôi khi trẻ con. Họ đã đốt đi những gì mình đã tôn thờ: những chiếc gương phù thủy, những cái thớt, những động cơ nhỏ ngu xuẩn, những bức xạ kế, những đồ chơi kết bằng đá cuội đủ màu, những tấm vải đay tô điểm các chữ ký theo lối họa sĩ Mathieu. Họ có cảm tưởng như ngày càng làm chủ được những ham muốn của mình: họ biết mình muốn gì; họ có những ý tưởng rõ ràng. Họ biết hạnh phúc của mình, tự do của mình sẽ là gì.

Thế mà họ vẫn lầm; họ đang lạc lối. Họ đã bắt đầu cảm thấy mình bị lôi theo một con đườngï không biết vòng vèo ra sao và đi tới đâu. Họ đâm sợ. Nhưng thường nhất là họ chỉ sốt ruột: họ cảm thấy đã chuẩn bị xong; họ đã sẵn sàng: họ đợi sống, họ đợi tiền.

talawas.org

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s