SÁNG MAI XỎA TÓC THẢ THUYỀN TA CHƠI

tạp văn của Bùi Văn Nam Sơn

 Không hẹn mà gặp, trong các câu hỏi bạn đọc
gởi đến cho tôi nhiều bạn đề cập ba khía cạnh khác nhau của cùng một
vấn đề: bản chất của tự do, tự do trong đời sống chính trị, tự do trong
hoạt động khoa học, hay rộng hơn, trong đời sống văn hoá, tinh thần.

Bạn đọc Trần Thanh Tâm “muốn được lý giải thêm những
quan niệm về tự do: phải chăng mỗi quốc gia có một kiểu tự do của riêng
mình theo nghĩa đơn thuần về chính trị? Nếu, như GS Ngô Bảo Châu nói,
tự do tuyệt đối là môi trường cần thiết nhất cho một nhà nghiên cứu
khoa học thì nhà khoa học có cô đơn không? Bản chất của tự do là gì
vậy?” Bạn Lê Nguyễn Minh Ân thì hỏi: “Ngày nay, trên khắp thế giới,
người ta đang đòi hỏi rất quyết liệt về quyền công dân, quyền làm người
tự do trên quốc gia độc lập của mình. Phải chăng đây là ý tưởng hiện
đại hay là chuyện xưa cũ trong lịch sử? Các nhà triết học, các nhà tư
tưởng lớn của chúng ta nói gì về vai trò công dân, quyền lợi và nghĩa
vụ thực sự của họ?” Tuy tất cả mà một, nhưng cũng xin tạm tách ra để dễ
bàn.
Gian nan hai chữ “tự do”
Dường như ai trong chúng ta cũng biết “tự do” là gì.
Nhưng, xét kỹ một chút, ta không khỏi kinh ngạc khi biết rằng “tự do”
thực ra là một khái niệm được “nhập khẩu” vào các nước Đông Á, trong đó
có Việt Nam ta, mới hơn một thế kỷ nay. Công đầu thuộc về các nhà
truyền giáo ở Nhật Bản khi chữ “jiyü” (tự do) được ghi lần đầu tiên vào
từ điển La – Bồ – Nhật từ năm 1595 để dịch chữ latinh libertas. Có lẽ không biết đến việc ấy, nên năm 1654, khi bộ Tổng luận thần học của Thomas Aquino được dịch sang tiếng Trung Quốc, chữ libertas lại được dịch là tự chủ, tự lập.
Các cách dịch tiên phong ấy, dù sao, cũng chỉ lưu hành trong phạm vi
truyền giáo nên ít phổ biến. Phải đợi đến thời Canh Tân Minh Trị, từ tự do
(jiyü) mới được Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát) du nhập chính thức
vào năm 1866, và được định hình dứt khoát từ năm 1872 khi Nakamora
Masanao dịch quyển Bàn về tự do (On liberty) (1859) nổi tiếng của John Stuart Mill sang tiếng Nhật thành Tự do chi lý (bản tiếng Việt đầu tiên của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005 và được tái bản nhiều lần).
“Tự do” (jiyü trong tiếng Nhật) thật ra không phải là
một sáng tạo hoàn toàn mới về ngôn ngữ. Nó bắt nguồn từ kho thuật ngữ
Phật giáo và Nho giáo, nhưng với ý nghĩa hoàn toàn khác. Trong Phật
giáo, nó gần đồng nghĩa với từ Niết bàn, chỉ một cảnh giới an
lạc tuyệt đối, còn trong Nho giáo, nó lại có nghĩa xấu của sự tự tung
tự tác, vô pháp vô thiên! Vì thế, Fukuzawa Yukichi, ngọn cờ đầu trong
phong trào Canh Tân Nhật Bản, phải hết sức vất vả để biện minh rằng chữ
“tự do” của phương Tây không dính dáng gì đến cách hiểu quen thuộc của
Nho giáo về từ này cả! Trong một trật tự xã hội vốn xem trọng sự tuân
phục bề trên và không có truyền thống về “pháp quyền tự nhiên”, một sự
dị ứng như thế quả không có gì lạ!
Từ “tự lập” đến “tự trị”
Ta
không khỏi kinh ngạc khi biết rằng “tự do” thực ra là một khái niệm
được “nhập khẩu” vào các nước Đông Á hơn một thế kỷ nay mà thôi.
Trở lại với khái niệm “tự do”, người ta nghĩ ngay đến
cách phân biệt của Immanuel Kant (1724 – 1804) hay gần hơn, của Isaiah
Berlin (1958) trong luận văn nổi tiếng Hai quan niệm về sự tự do
của ông. Theo đó, con người, một mặt, là tự do khi thoát khỏi một điều
gì, và, mặt khác, là tự do để làm một điều gì. Tự do “khỏi” điều gì là
phương diện tiêu cực của khái niệm. Đó là sự vắng mặt của những cưỡng
chế, ràng buộc, quy ước, giới hạn, ngại ngùng đến từ bên ngoài. Theo
nghĩa ấy, con người là tự do khi không bị cản trở trong hành động:
không bị bỏ tù, không bị đánh đập, không bị bịt miệng, không bị dục
vọng làm cho mù quáng…
Tự do “khỏi” điều gì luôn gắn liền với cảm xúc: chẳng
hạn, ta có thể cảm thấy thênh thang, dễ thở khi sống ở đô thị, dù đô
thị chật hẹp, tù túng hơn nông thôn, chỉ bởi vì ở đó ta cảm nhận được
sự năng động của cuộc sống, sự cởi mở của giao tiếp. Tiền đề sâu xa của
cảm xúc này là một vị thế đặc biệt nào đó của con người trong tự nhiên.
Tự do chỉ có thể có, khi con người – dù có ý thức hay không – thấy mình
không hoàn toàn bị lệ thuộc vào những định luật tự nhiên, những dục
vọng bản năng, những quy điều sẵn có của xã hội. Thời cổ đại, phương
Tây gọi đó là sự “tự lập” (autarchy) của con người: “sở hữu chính
mình”, “ở trong nhà của mình” như câu nói của Aristoteles: “Tự do là tự
sản sinh ra hành động và thấy chính mình như là nguyên nhân tối hậu”.
Nhưng, sự vắng mặt của những ràng buộc, tiếc thay, cũng đồng thời là
những ranh giới cho sự tự do của con người!
Ở đời lắm chuyện lo phiền
Sáng mai xoã tóc thả thuyền ta chơi
(Lý Bạch)
“Lý học sĩ” có thể nhất thời thấy mình thoát khỏi
những phiền muộn của lợi danh, thế sự, nhưng… nếu thuyền chìm, chàng
không thể tung cánh bay lên như chim; đồng thời vẫn phải nhìn hướng
gió, phải ăn uống và một lúc nào đó, quay vào bờ! Cảm giác tự do chưa
nói được gì nhiều về phạm vi thực sự của tự do.
Thi sĩ họ Lý vẫn chưa thực sự tự do, nếu không biết…
lái thuyền đi đâu, về đâu. Sử dụng sự tự do “tiêu cực” này như thế nào
để trở thành sự tự do “tích cực” (tức sự tự do “để” làm gì và “vì” cái
gì, theo cách nói của I. Berlin) tuỳ thuộc phương hướng của những quyết
định của con người. Đó chính là sự tự do xác định mục tiêu đã được nhận
thức rõ và thiết kế nó theo ý chí của mình. Con người có sự chọn lựa
phương hướng và phát triển sự chọn lựa ấy. Người cổ đại gọi đó là sự
“tự trị” (autonomy) của con người.
Gánh nặng của sự tự do
Tự trị khó hơn tự lập. Với sự tự trị, cảm giác thoải
mái của sự tự do nhanh chóng tiêu tan. Trái lại, nó trở thành một gánh
nặng. Khối người đã… tự tử vì không biết làm gì nữa với cuộc đời mình!
Con người có thể tự do thiết kế cuộc đời mình cũng có nghĩa là phải
thường xuyên chịu áp lực của sự tự quyết định. Một hình thức mới của sự
cưỡng chế, khác chăng, là “tự cưỡng chế”. “Con người bị kết án phải tự
do”, nói độc đáo như Jean Paul Sartre! Ngay cả sự thụ động cũng gây hậu
quả và nhiều khi phải trả giá, như ở nhiều nước, luật pháp trừng phạt
cả những ai “không làm”, chẳng hạn, không chịu cứu giúp người gặp nạn.
Như thế, sự tiếp cận đầu tiên của chúng ta với chủ đề
“tự do” là phân biệt giữa sự vắng mặt của cưỡng chế (tự do tiêu cực) và
sự tự quyết về mục đích muốn vươn tới (tự do tích cực). Nói cách khác,
đó là sự phân biệt giữa “tự do hành động” và “tự do ý chí”. Cả hai “còn
lắm điều hay” và không kém phần rắc rối, xin hẹn tiếp tuần sau.
sgtt.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s