NHỮNG CÁCH THẤY (12)

John Berger
chuyển ngữ : Như Huy

Cácbức tranh sơn dầu luôn mô tả đồ vật. Trong thực tế, đồ vật luôn là thứgì đó khả mại. Việc vẽ một đồ vật lên tranh không khác với việc mua đồvật ấy và đem về nhà. Và khi mua một bức tranh, ta cũng mua luôn cáinhìn (của họa sĩ) về đồ vật mà bức tranh ấy mô tả


Kho tàng của Paston tại khu Oxnead, tranh sơn dầu thuộc Trường phái Hà Lan, 1665

Mốitương đồng này giữa sự chiếm hữu ( đồ vật) và cách thấy (đồ vật), tứcđiều được hợp nhất với nhau trong bức tranh sơn dầu, là yếu tố mà cácchuyên gia và sử gia nghệ thuật luôn bỏ qua.Tuy nhiên, rất đáng chú ýlà mối tương đồng ấy lại được một nhà nhân học nhận ra

Lévi-Strauss ( Trong các cuộc trao đổi với Charles Charbonnier, Cape editions) đã viết:

Chínhsự ham muốn quyết liệt và tham lam này nhằm chiếm hữu vật thể để trởthành chủ sở hữu nó hay thậm chí chỉ để trở thành người xem nó, dườngnhư với tôi, đã cấu tạo nên một trong những đặc trưng độc đáo nhất chonghệ thuật của nền văn minh phương Tây
Nếu điều này làđúng – dẫu phạm vi khái quát của Lévi-Strauss có lẽ quá rộng – cái xuhướng này đã đạt tới đỉnh điểm của nó vào thời kỳ của hội họa sơn dầutruyền thống.

Thuật ngữ Tranh sơn dầuhàm chỉ tới nhiều hơn là một kỹ thuật vẽ tranh. Nó định nghĩa một hìnhthức nghệ thuật. Kỹ thuật pha trộn mầu bột với dầu lanh đã tồn tại từthời cổ đại. Song tranh sơn dầu, với vai trò là một hình thức nghệthuật thì chưa hề xuất hiện cho tới khi có một nhu cầu cho sự pháttriển và tối ưu hóa kỹ thuật này (dẫn tới việc ngay sau đó vải tole đãđược đưa vào sử dụng thay cho các tấm bảng gỗ) nhằm biểu lộ một cáinhìn cụ thể về đời sống mà các kỹ thuật thuộc bột mầu hay sơn tườngkhông thể thỏa mãn. Vào lúc sơn dầu lần đầu tiên được sử dụng – đầu thếkỷ thứ 15 lại Bắc Âu – để vẽ các bức tranh về một đặc tính mới mẻ, thìchính đặc tính này lại là điều gì đó bị ngăn trở bởi sự phục hồi của vôsố quy phạm nghệ thuật thời trung cổ. Bản thân tranh sơn dầu đã khônghoàn toàn tự thiết lập nên các quy chuẩn cho nó, tức cách thấy sự vậtcủa nó, cho tới thế kỷ 16.

Người ta không thể định vị chính xácthời kỳ kết thúc của tranh sơn dầu. Ngày nay, các bức tranh sơn dầu vẫnđược vẽ. Tuy nhiên cơ sở cho cách thấy sự vật theo kiểu truyền thống đãbị trào lưu Ấn tượng giải phá và bị trào lưu lập thể ném vào sọt rác.Vào khoảng cùng thời gian đó, nhiếp ảnh đã chiếm lấy vị trí của tranhsơn dầu trong vai trò một nguồn mạch quan trọng của thế giới hình ảnhthị giác. Bởi những lý do này, ta có thể cho rằng, thời kỳ của tranhsơn dầu truyền thống có lẽ sẽ được định vị một cách áng chừng ở giữakhoảng 1500 và 1900.

Tuy nhiên truyền thống vẫn tạo hình hài chonhiều tiên kiến văn hóa của chúng ta. Nó định nghĩa điều chúng ta hàmchỉ khi nói “ giống tựa tranh”. Các quy phạm của nó vẫn tác động tớicách ta thấy các chủ đề hội họa như phong cảnh, phụ nữ, thức ăn, cácnhân vật quan trọng, huyền thoại học. Nó cung cấp cho chúng ta cáckhuôn mẫu về “thiên tài nghệ thuật”. Và lịch sử của truyền thống, theonhư cách nó được giảng dạy, luôn dạy chúng ta rằng nghệ thuật sẽ đạttới thành công nếu trong xã hội có đủ những cá nhân có một tình yêu vớinghệ thuật

Vậy một tình yêu với nghệ thuật là gì?

Hãy xem xét một bức tranh thuộc truyền thống mà đề tài của nó là về một người yêu nghệ thuật


Archduke Leopold Wilheim trong phòng tranh riêng của mình, Teniers (1582-1649)

Bức tranh này cho thấy điều gì?

Đó là một kiểu nhân vật thuộc thế kỷ 17, tức kẻ mà các họa sĩ sẽ vẽ các bức tranh cho ông ta.

Những bức tranh này là gì?

Trướckhi là điều gì khác, bản thân chúng là các vật thể có thể mua bán. Cácvật thể duy nhất. Một nhà tài trợ không thể treo âm nhạc hay thi caquanh mình theo lối ông ta treo các bức tranh do ông ta đặt vẽ

Bứctranh như cho thấy nhà sưu tập đang sống trong một căn nhà được dựngbằng các bức tranh vậy. Vậy việc sống trong căn nhà với các bức tườnglàm bằng tranh thì có lợi thế gì so với việc sống trong căn nhà với cácbức tường bằng đá hay gỗ?

Các bức tranh cho anh ta thấy các thị cảnh; thị cảnh về những gì anh ta có vẻ như đang sở hữu.

Mộtlần nữa, Lévi-Strauss lại bình luận về việc làm thế nào một bộ sưu tậptranh có thể xác nhận niềm tự hào và sự tự ngưỡng mộ bản thân[amour-proper] của một nhà sưu tập

Vớicác nghệ sỹ thời Phục hưng, bức tranh có lẽ là một công cụ nhận thức,song nó cũng là một công cụ chiếm hữu, và chúng ta chớ quên, khi nghiêncứu bức tranh thời Phục hưng, thì bức tranh ấy đã chỉ có thể có đượcnhờ vào những khoản tiền lớn kinh hoàng được ky cóp ở Florence haynhững nơi khác, và những thương gia Italia giàu có đã coi họa sĩ nhưcác đại diện của mình, tức người cho phép họ xác nhận sự sở hữu của họđối với tất cả những gì đẹp đẽ và đáng ngưỡng mộ trên thế giới. Các bứctranh treo nơi các cung điện tại Florence tái hiện một thế giới vi mômà trong đó, chủ nhân, nhờ vào các họa sĩ của mình, đã tái tạo giống ynhư thật và đặt ở khoảng cách trong tầm tay, mọi đặc trưng mà anh tathèm muốn từ thế giới thực.


Phòng tranh của hồng y giáo chủ Valenti Gonxaga, Panini (1692-1765/8)

Nghệthuật của bất kể thời kỳ nào đều hướng tới việc phục vụ các mối quantâm có tính ý hệ của nhóm thống trị. Thế nên, khi đơn giản nói rằngnghệ thuật châu Âu vào khoảng giữa 1500 -1900 đã phục vụ các mối quantâm của các nhóm thống trị nối tiếp nhau, và tất cả các nhóm thống trịnày , theo những cách khác nhau, đều phụ thuộc vào quyền lực của giaicấp tư bản, chúng ta không nên cho rằng mình đang nói điều gì mới mẻ.Những gì được đưa ra sau đây có lẽ sẽ có chút chính xác hơn: Chính mộtcách thấy thế giới, tức cách thấy được xác quyết chủ yếu nhờ vào tháiđộ mới mẻ đối với tài sản và sự trao đổi hàng hóa, giờ đây đã tìm thấylối biểu lộ thị giác phù hợp với nó trong tranh sơn dầu, bởi nó đãkhông thể tìm thấy điều ấy trong bất kỳ hình thức nghệ thuật thị giácnào khác.


Nội thất của một phòng tranh, Flemish, t.k. 17

Tranhsơn dầu đã đối xử với các hiện tượng mà nó miêu tả giống với cách màgiai cấp tư bản đối xử với các mối liên hệ xã hội. Nó quy giản mọi thứthành các đồ vật giống nhau. Mọi thứ trở nên có thể trao đổi bởi mọithứ đều trở nên hàng hóa. Mọi thực tại đều được đo đếm một cách giốngnhau qua khía cạnh vật chất bên ngoài của các thực tại ấy. Tuy nhiên,tâm/linh hồn (bên trong) , nhờ vào hệ thống kiểu Descartes, đã được bảotoàn trong một khu vực khác. Một bức tranh có thể mô tả về tâm/linhhồn– song chỉ bằng cách gián tiếp, thông qua các vẻ dạng bên ngoài, chứkhông bao giờ có thể bằng cách trực tiếp. Do đó, tranh sơn dầu đã mangtới một thị năng mới về toàn bộ vẻ dạng bên ngoài của mọi sự vật

Cólẽ một số bức tranh sẽ lập tức xuất hiện trong trí óc chúng ta để chứngminh sự nhấn mạnh trên về việc tranh sơn dầu không thể miêu tả trựctiếp tâm/linh hồn là không đúng. Chẳng hạn các tác phẩm như củaRembrandt, El Greco, Giorgione, Vermeer, Turner, v.v. Tuy nhiên nếunghiên cứu các tác phẩm này trong mối quan hệ của chúng với truyềnthống, ta sẽ thấy rằng chúng là những lệ ngoại của một kiểu dạng rấtđặc biệt

Truyền thống được tạo nên từ hàng trăm ngàn bức tranhđược phân bố khắp châu Âu. Một số lượng lớn đã không thể tồn tại vớithời gian. Trong số những bức tranh còn sống sót đến ngày nay thì chỉmột phần nhỏ được coi là các tác phẩm mỹ thuật, và trong phần nhỏ đóthì chỉ một phần nhỏ hơn nữa mới là các bức tranh được in ấn và saochép lại liên tục, và được coi là các tác phẩm do các “bậc thầy” tạo nên

Kháchthăm viếng bảo tàng thường xuyên chìm ngập trong vô số tác phẩm đangtrưng bày ở đó và trong cảm thức hối hận của việc không thể nào có đủthời gian tập trung chỉ vào một vài trong số những bức tranh này. Thậtra một phản ứng như thế là hoàn toàn có thể hiểu được. Lịch sử nghệthuật đã hoàn toàn thất bại trong việc đối mặt với vấn đề của mối quanhệ giữa các tác phẩm kiệt xuất và các tác phẩm xoàng của truyền thốngchâu Âu. Ý niệm về thiên tài, bản thân nó, không phải là câu trả lờithỏa mãn. Hậu quả là sự lẫn lộn vẫn hiện hữu trên bức bức tường của cácgalleries. Các tác phẩm xoàng vẫn được treo xung quanh các tác phẩmkiệt xuất mà không có bất kỳ sự ý thức- chưa nói tới sự tường giải – vềviệc điều gì đã làm chúng khác nhau đến thế.

Nghệ thuật của mọithời kỳ văn hóa đều sở hữu vô số các dạng tài năng khác nhau. Songkhông ở đâu như trong nền văn hóa của tranh sơn dầu mà sự khác nhaugiữa “các tác phẩm bậc thầy” và tác phẩm xoàng lại lớn đến thế. Trongtruyền thống này, sự khác nhau không chỉ nằm ở kỹ thuật hay sự tưởngtượng, mà còn ở tâm lý của kẻ sản tạo ra nó. Tác phẩm xoàng- và sốlượng của nó ngày càng tăng sau 17 thế kỷ – là một tác phẩm được làm ramột cách ít nhiều lãnh đạm: có nghĩa là các giá trị mà trên danh nghĩanó đang biểu lộ, đối với họa sĩ, chỉ là thứ yếu vì điều quan trọng hơnở đây là việc nó phải bán được hay phải được nhà tài trợ chấp nhận. Tácphẩm vẽ theo lối dễ dãi không phải là kết quả của sự vụng kém tay nghềhay sự quê mùa trong thẩm mỹ; nó là kết quả của việc các đòi hỏi củanghệ thuật giờ đây đã phải quy hàng trước các nhu cầu từ thị trường.Thời kỳ của tranh sơn dầu cũng trùng hợp với thời điểm khi có sự bừngdậy của thị trường nghệ thuật. Và như thế, chính trong sự mâu thuẫn nàygiữa nghệ thuật và thị trường mà chúng ta có thể tìm ra được các tườnggiải về những gì được coi là tương phản, hay đối kháng giữa tác phẩmngoại hạng và tác phẩm trung bình

Trong khi vẫn công nhận sựhiện hữu của các tác phẩm kiệt xuất, tức điều chúng ta sẽ quay trở xemxét lại sau, giờ đây ta sẽ đưa cái nhìn bao quát hơn vào truyền thống

(Như Huy dịch từ: Ways of Seeing, John Berger, Peinguin Books published 2008) 
huybeo.blogspot.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s