Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC (PHẦN 2, CHƯƠNG 6)

Phạm Công Thiện

Chương sáu

Ý thức khước từ – Con người chạy trốn và phân tâm học nhân bản của Erich Fromm

1.

Trong chương này, tôi sẽ trình bày tư tưởng của Erich Fromm viết dựa theo sát một chương trong quyển Escape from Freedom của Erich Fromm.


Sự thành công lớn của Freud là đã khám phá những khía cạnh sinhlý của bản chất con người; nhưng sự thành công ấy cũng là sự thất bạicủa Freud: vì Freud quá nhấn mạnh những khía cạnh sinh lý ấy và bỏ quênnhững khía cạnh cốt yếu khác.

Fromm đi ngược lại Freud; đối với Fromm, vấn đề cốt yếu của tâm lýhọc là mối liên hệ đặc biệt của cá nhân đối với thế gian bên ngoài, chứkhông phải là sự thoả mãn hoặc sự dồn ép nhu cầu bản năng nào đó; chẳngnhững thế, Fromm quả quyết rằng mối tương quan giữa con người và xã hộilà một tương quan sống động; chứ không phải tĩnh chết bất động. Sốngđộng ở đây có nghĩa là trao đổi qua lại, lưu thông giữa hai chiều uyểnchuyển. Mối tương quan giữa con người và xã hội không phải tĩnh lặngbất động, không phải là hai ý niệm trừu tượng khô cứng đứng đối diệnvới nhau: một bên là cá nhân với những khuynh hướng bản tính nào đó vàmột bên là xã hội, hai bên đứng lìa ra như hai thực thể riêng lẻ; mà cánhân giữ vai trò thụ động còn xã hội giữ thế chủ động, như chủ với đầytớ, nghĩa là xã hội có thể làm thoả mãn những khuynh hướng bẩm sinh củacá nhân hoặc có thể chà đạp dồn ép những khuynh hướng ấy, tuỳ theo từnghoàn cảnh đặc biệt.

Quan niệm như thế thì ta vẫn còn đi bên ngoài vấn đề, chứ chưa đivào được bên trong, ta đã bất động hoá một vấn đề linh động, vì ta đãxem xã hội như là một sự vật đứng bên ngoài ta, cách biệt hẳn ta.

Sự thực thì xã hội không ở ngoài cá nhân và cũng không phải một cáigì đứng tách biệt hẳn cá nhân. Xã hội là cá nhân, nhưng cá nhân cũng làxã hội; nói thế có nghĩa là xã hội và cá nhân nằm trên tương quan qualại. Mọi người đều có những nhu cầu căn bản giống nhau, như ăn, uống,giải quyết sinh lý dục tình; nhưng những tính tình của con người khácnhau là do tình yêu thương,sự hờn ghét, lòng tham quyền cố vị, sự đầuhàng quai phục, sự hưởng thú nhục lạc, mối sợ hãi nhục dục v.v…; tất cảnhững tính tình xã hội. Những khuynh hướng cao đẹp nhất, cũng như nhữngkhuynh hướng xấu xa nhất của con người không hẳn xuất phát từ bản chấtsinh lý cố định của con người; những khuynh hướng ấy là kết quả củatiến trình xã hội; tiến trình xã hội đã tạo tác con người .

Chúng ta để ý rằng khi lập luận đại khái như trên, Erich Fromm đã dùng từ ngữ “tiến trình xã hội”(the social process).

Tiến trình (process) là dùng để chỉ một cái gì đang diễn tiến, thayđổi, bất định, triển khai, di động, sống động. Chúng ta cũng nên nhớrằng nguyên tắc căn bản mà Fromm đặt ra để chống lại Freud là nguyêntắc: tương quan giữa con người và xã hội không phải là tương quan tĩnhchết và bất động (Fromm: “the relationship between man and society is not a static one”).

Xã hội chẳng những đè nén, chà đạp, mà lại còn giữ vai trò sáng tạo (creative function).
Bản tính con người, những khát vọng, tính tình và những nỗi lo sợhãi hùng của con người đều là sản phẩm văn hoá; nói như thế, chính nỗlực của con người đã và đang sáng tạo ra con người; chính con người làsáng tạo và sự thành tựu quan trọng nhất do nỗ lực liên tục của conngười.

2.

Có thể định nghĩa một cách giản dị rằng lịch sử là sự ghi chép những nỗ lực không ngừng của con người.

Tìm hiểu tiến trình sáng tạo con người trong lịch sử chính là đốitượng của khoa tâm lý xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử mang một sắc tháiđặc biệt; tính tình con người không phải nhất định: bản tính con ngườiuyển chuyển thay đổi không ngừng. Hiển nhiên, ai cũng nhận rằng tínhtình con người thay đổi từ giai đoạn lịch sử này đến giai đoạn lịch sửkhác. Tâm trí con người thời lãng mạn khác thời cổ điển, thời Đườngkhác thời Minh, thời Văn nghệ Phục hưng ở Âu châu khác thời Trung cổ.Cơ cấu tính tình con người ở thời Tư bản độc tôn khác hồi thế kỉ XIV.

Khoa tâm lý học xã hội phải cắt nghĩa lý do tại sao những khả năngmới và những đam mê mới, tốt hoặc xấu, đã xuất hiện trong một giai đoạnnào đó, Fromm cho ví dụ rằng từ thời Phục hưng văn nghệ ở Âu châu chođến nay, con người thường nung nấu say đuổi danh vọng; ngày nay việcchạy đuổi theo danh vọng rất là thường tình, nhưng ở xã hội thời Trungcổ, con người ít có tham vọng như vậy. Cũng vào thời đó, con người Âuchâu phát triển cảm giác thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên mà trước kia,họ chưa phát triển cảm giác ấy. Ở những nước Bắc Âu, từ thế kỷ XVI trởđi, con người đã phát triển khuynh hướng lao công; ở vào những thế kỷtrước, con người chưa phát triển khuynh hướng ấy.

Lịch sử làm ra con người; nhưng tương quan giữa con người và lịchsử không phải chỉ một chiều như vậy; vì đồng thời con người cũng làm ralịch sử.

3.

Con người thực hiện nỗ lực và nỗ lực thực hiện con người; nói mộtcách khác, con người tạo ra nỗ lực và nỗ lực tạo ra con người. Tiếntrình sự sáng tạo con người trong lịch sử đi như sau; con người tạo ralịch sử và rồi lại nô lệ vào lịch sử; sau đó, con người cố gắng tự giảithoát khỏi lịch sử, rồi lại sáng tạo ra lịch sử, sau cùng lại cũng nôlệ vào lịch sử. Cứ thế, lịch sử đi vòng tròn;
cũng như con người đi vòng tròn theo như lịch sử.

Hiện nay, tiến trình con người và lịch sử đang nằm vào thế thắngcủa lịch sử. Thế kỷ XX là thế kỷ con người trở thành nô lệ của lịch sửnghĩa là lịch sử sáng tạo ra người. Thoạt nhiên, con người sáng tạo ramáy móc, rồi hiện nay bị nô lệ máy móc và trở thành máy móc.

Nhưng con người không phải chỉ bị lịch sử sáng tạo; mà lịch sử cũng bị con người sáng tạo (Fromm: But man is not only made by history – history is made by man).

Erich Fromm cho rằng sự giải quyết mối mâu thuẫn này là phạm vi củatâm lý học xã hội; nhưng tôi nghĩ rằng tâm lý học xã hội sẽ bất lực vàchỉ có thể đi chung quanh vấn đề thôi, nghĩa là chỉ giải thích đạikhái, chứ không thể giải quyết được. Sự giải quyết mâu thuẫn giữa lịchsử và con
người nằm trong phạm vi bản thể luận, siêu hình học, tôn giáo, v.v…

Tâm lý học xã hội chỉ có thể trình bày tiến trình biến đổi củanhững đam mê, thèm khát và lo âu sợ hãi như là kết quả của tiến trìnhxã hội; và trình bày ngược lại rằng những năng lực của con người đượckết thành những hình thể đặc biệt để trở thành những lực lượng sáng tạodùng để un đúc uốn nắn ra tiến trình xã hội.

Chẳng hạn như, theo Fromm, lòng tham danh vọng, tham thành công vàkhuynh hướng lao động của con người là những động lực quyết định mà nếukhông có những động lực này thì tất nhiên chế độ tư bản hiện đại khôngthể nào phát triển được.

4.

Trong quyển Van Gogh, le suicidé de la société, thi sĩ Antonin Artaud đã lấy hết tâm lực thiết tha mà bệnh vực rằng Van Gogh không phải là một người điên (Antonin Artaud: “Non, Van Gogh n’etait pas fou, mais…”);sở dĩ Antonin Artaud nói như vậy là vì ông muốn đẩy lui sự bất công tànnhẫn của những con người tầm thường đối với thiên tài phi thường củaVan Gogh; nói khác đi, Antonin Artaud muốn đặt lại một bảng giá trị mớicho con người nhất là đặt lại hai ý niệm về tầm thường và điên loạn.

Xã hội gồm có hai hạng người chính: hạng người có đầu óc bìnhthường (normal) và hạng người có đầu óc thác loạn, điên loạn, bất quânbình (neurotic).

Trong một cuộc chạm mặt giữa hai hạng người trên, thường thườngngười bình thường hay có thái độ chiếu cố từ trên nhìn xuống hoặc tỏlòng thương hại hoặc tỏ lòng khinh bỉ: “anh chỉ là thằng điên”. Tấtnhiên dù thương hại hay khinh bỉ, người có trí óc bình thường đều tỏthái độ rõ rệt rằng người bình thường cao hơn người điên, giá trị hơnngười điên.

Đó là một sự lầm lẫn lớn lao mà hầu hết mọi người đều không ý thức.Chúng ta không được quyền thương hại hoặc khinh bỉ người điên, tráilại, chúng ta bị bắt buộc phải kính trọng người điên vì người điên caohơn người bình thường trong bảng giá trị nhân bản. Hầu hết những nhà ysĩ thần kinh hay những nhà phân tâm học đều không nghĩ như trên. Chỉtrừ Erich Fromm là đã nhận thấy bảng giá trị nhân bản thực sự và địa vịcủa người điên trong bảng giá trị ấy.

Hầu hết những y sĩ thần kinh hay những nhà phân tâm học hay nhiềungười đều bênh vực cơ cấu xã hội và cho rằng bất cứ người nào không thểthích nghi, thích ứng với xã hội thì không đáng sống ở đời, tức làkhông còn giữ được giá trị con người nữa. Con người bình thường là conngười có thể thích nghi, thích ứng với xã hội; còn con người điên loạnkhông thể nào sống thích nghi thích ứng với xã hội được.

Sự thực không giản dị như thế. Chính Fromm đã nhận thấy rằng conngười bình thường (theo nghĩa thích nghi được với hoàn cảnh xã hội)thường khi không được lành mạnh như con người điên ở trong bảng giá trịnhân bản (Fromm: “the person who is normal in terms of being well adapted is often less healthy than the neurotic person in terms of human values”).

Xét cho tận cùng, ta thấy con người thích ứng chỉ có thể thích ứngđược là vì họ đã chối bỏ bản ngã, họ đã hy sinh bán mất tâm hồn họ đểđổi lấy sự thích ứng trên; vì vậy, cái tính chất thực thụ và lòng hồnnhiên tự nhiên của họ đã bị đánh mất.

Họ không còn là họ; họ mang mặt nạ. Họ đầu hàng trước những côngthức; vì thế họ không còn hồn nhiên bỡ ngỡ trước cuộc đời; họ khôngkhác gì một lưỡi dao cùn; họ có những phản ứng giả tạo hoặc máy móc; họdễ bị lôi đi; họ không còn tinh thần sáng tạo; chính những người như họđã đưa nhân loại đến những thảm trạng hãi hùng nhất hiện nay.

Trái lại, người điên loạn là con người không chịu đầu hàng; họ điênlà vì họ không chịu chấp nhận công thức xã hội; họ muốn cứu giữ bản ngãnhưng họ thất bại; và họ tìm giải thoát trong điên loạn, rút lui vàomột thế giới ảo hoặc kỳ lạ. Vì thế đứng trên quan điểm giá trị nhânbản, người điên ít bại hoại hơn là hạng người đánh mất trọn cả tínhtình.

Hiển nhiên, ngoài hạng người (điên loạn và bình thường), cũng cómột hạng người khác rất ít thấy, đó là hạng người không điên loạn màvẫn có thể giữ được cá tính mình trong khi thích ứng thích nghi vớinhững đòi hỏi của xã hội.

Đứng trên quan điểm theo những giá trị nhân bản, xã hội điên loạnlà xã hội mà con người đã đánh mất cá tính nhân phẩm của mình (nhưnhững người thích nghi với xã hội bằng cách đánh chìm tâm hồn mình);nhưng có bao giờ xã hội tự nhận là điên loạn? Chỉ có những người điênlà chịu đựng bao nỗi bất công tủi nhục.

5.

Lúc con người cô độc cảm thấy sống trong tình trạng bất an, lúc ấy hắn chỉ nghĩ đến những đường chạy trốn.

Khi còn bé nhỏ, hắn được sống trong một trạng thái tâm hồn tươngđối thanh bình hơn; nhưng khi lớn lên, lúc bước vào cuộc sống và đi làmnuôi thân, lúc đã ý thức rằng mình là người, hắn phải đối mặt với đờivà cảm thấy bơ vơ, hắn cảm thấy cuộc đời đứng bên ngoài hắn, một thựcthể hoàn toàn biệt lập. Hắn cảm thấy cô đơn và hoàn toàn bất lực; hắnkhông thể chịu đựng được nữa; thế là hắn chạy trốn.

Đường chạy trốn mở ra nhiều lối nhưng tựu trung, ta thấy có haiđường chính; một đường đưa đến sự sống và một đường đưa đến sự chết(chết trong tâm hồn hoặc thể xác).

Nếu may mắn hắn đi vào con đường đi đến sự sống thì hắn sẽ tìm đếnchân trời tự do thực sự; hắn tự nối liền hắn với cuộc đời trong tìnhyêu, tình thương, trong việc làm, trong những khả năng trí thức sángtạo, trong sự bày tỏ chân thành, thể hiện đời sống nội tâm. Sự nối liềncủa hắn với cuộc đời được xây dựng trên tính chất hồn nhiên tự nhiên chứkhông máy móc hay có sự tính toán của lý trí. Như thế, hắn trở thànhmột với người đời, thiên nhiên và với cả chính hắn; hắn sống điều hoàthanh bình với tâm hồn hắn và tâm hồn rộng lớn của vũ trụ; hắn cảm thấysống với mọi người mà vẫn giữ được sự độc lập và sự nguyên vẹn của cátính bản ngã.

Nếu chẳng may hắn đi vào con đường đưa đến sự chết thì hắn sẽ rơithụt lùi lại đằng sau, hắn phải đánh mất sự tự do của hắn và để khỏiđau khổ cô đơn, hắn cố gắng bôi mất tâm hồn bằng cách thụ động đua chenvào cuộc đời; con đường thứ hai này không thể nào đưa hắn đến tự do vàcũng không thể nào nối liền tâm hồn hắn với tâm hồn rộng lớn của đờisống; trong một lúc sợ hãi; trong một tình cảnh đầy đe doạ hãi hùng,hắn không thể chịu đựng nổi và hắn liền chạy trốn; bất cứ sự chạy trốnnào cũng đều mang tính chất bắt buộc và tính chất rõ ràng nhất của sựchạy trốn là sự đầu hàng của cá tính và sự đánh mất trạng thái nguyênvẹn của tâm hồn. Con đường thứ hai nhất định không thể nào đưa hắn đếnthanh bình tâm hồn, hạnh phúc nội tâm và tự chân thực, tích cực; theonguyên tắc, con đường thứ hai này luôn luôn đưa đến tất cả những hiệntượng thần kinh suy nhược, thác loạn, điên loạn, mất thăng bằng trínão. Đi vào cuộc sống, hắn có những cử chỉ hành động như một cái xáckhông hồn và những phản ứng thái độ của hắn luôn chỉ là những phản ứngmáy móc, tự động, bắt buộc. Hắn trở thành tổng số của những thói quen;tinh thần sáng tạo bị bóp chết trong trứng.

6.

Tính chất nổi bật nhất trong sự chạy trốn là chạy trốn chính bảnthân mình; vì chạy trốn bản thân mình, nên hắn ném mất sự độc lập củabản thân và tâm hồn hắn, và hắn tìm hết cách đánh chìm bản ngã vào mộtngười khác hoặc một cái gì khác ở bên ngoài hắn để tìm thấy một sứcmạnh bên ngoài mà hắn cảm thấy thiếu thốn. Ý thức cắt đứt giây liên lạcnguyên thủy của con người với thế giới bên ngoài, bây giờ ý thức đauđớn và chạy đi tìm một thứ giây liên lạc khác; nhưng ý thức lại đánhlừa ý thức.

Con người tự đồng hoá vào một cái gì quan trọng và con người chạytrốn bằng cách bám vào sự quan trọng ấy; hay ngược lại con người tựđồng hoá với sự yếu đuối, sự nhún nhường, sự nhỏ bé thấp mọn để chạytrốn vào sự vuốt ve, lòng thương hại của kẻ khác.

Hai hình thức chạy trốn dễ thấy là; tranh đấu cho sự đầu hàng vàtranh đấu cho được sự thống trị. Khuynh hướng thứ nhất, trong danh từtâm lý học mang tên là “masochistic”, nghĩa là tự mình gây khổ chomình, thích gây khổ cho chính mình; khuynh hướng thứ hai, gọi là“sadistic”, nghĩa là gây khổ cho người khác.

Cả hai khuynh hướng này đều xuất phát từ nỗi cô độc cùng cực, sự bơ vơ ngạt thở của con người.

7.

Những hình thức thông thường của khuynh hướng đầu hàng hay khuynhhướng tự do đau khổ (masochistic) là những cảm giác tự ty, cảm giác bấtlực, cảm giác bản thân thấp hèn. Nếu ta phân tích những người bị ám ảnhbởi cảm giác này, ta nhận thấy rằng mặc dù ý thức họ phàn nàn than thởvề những cảm giác này và tỏ vẻ muốn dứt bỏ hết những cảm giác tự ty ấy;song, trong thâm tâm họ, trong tiềm thức họ thì có một sức lực vô hìnhbên trong thúc đẩy họ vuốt ve mơn trớn những cảm giác bé nhỏ hèn mọnnày.

Hạng người này thích hành hạ bản thân, thích xem nhỏ con ngườimình, tỏ vẻ yếu đuối và không thể làm chủ sự vật được; họ thường phóngđại nỗi đau khổ và sự bất lực yếu đuối của họ; sự thực thì những cảmgiác của họ xuất phát do tưởng tượng, chứ thực ra thì sự nhược điểm,khuyết điểm, tính yếu đuối của họ không phải như họ tưởng. Hiển nhiên,hạng người này thường hay nương tựa vào những sức lực bên ngoài họ,nương tựa vào những kẻ khác hay tạo vật. Họ thường nhu nhược, khônghiên ngang, họ không thể làm những điều họ muốn làm, họ thường để bịlôi đi và buông mình theo những mệnh lệnh của những sức lực bên ngoàihọ. Thường khi, họ không thể nào thể hiện được câu “tôi muốn” hay “tôilà”. Chưa đánh giặc, họ đã xin đầu hàng vô điều kiện. Đối với họ, cuộcđời và thế gian bên ngoài là một sức lực hùng mạnh hoàn toàn lấn át họ,họ không thể nào tự làm chủ và tự chiến thắng sự yếu đuối của họ.

Trong những trường hợp cực đoan, ta thấy có những người thuộc hạngnày thường bán mất tâm hồn họ cho những sức lực bên ngoài, họ thường cókhuynh hướng hành hạ dày vò ray rứt đay nghiến mình, tự mình gây đaukhổ cho mình.

Khuynh hướng này còn mang nhiều hình thức khác. Chẳng hạn, ta thấycó những người hay tự kết án họ và tự chửi rủa chỉ trích họ một cáchtồi tệ; họ thích tự đả kích họ một cách tàn nhẫn đến nỗi kẻ thù họ cũngkhó lòng tưởng tượng được.

Trong một vài trạng thái thần kinh suy nhược, ta thấy có một hạngngười thích được bệnh hoạn đau yếu; và một cách ý thức hay vô ý thức,họ thấp thỏm chờ đợi cơn bệnh như là đón chờ quà tặng của người thânyêu (nói mạnh hơn như Fromm: “như là quà tặng của những thần linh”).

Thường thường họ tưởng tượng những tai nạn cho họ và nhiều khinhững tai nạn tưởng tượng ấy có thể trở thành sự thực, mà nguyên nhâncũng là do khuynh hướng tiềm thức hoạt động trong người họ khiến cho sựtưởng tượng ấy trở thành sự thực.

Fromm đưa ra những trường hợp để làm thí dụ, chẳng hạn như có nhữngngười không thể trả lời những câu hỏi trong lúc đi thi cử; mặc dù lúcđi thi ấy, họ có thể hiểu biết hết những câu trả lời. Có những kẻ khácthích (trong tiềm thức hay ý thức) gây tai nạn hoặc thất bại hoặc sựhiềm khích cho mình bằng cách chỉ trích, khiêu khích sự hờn giận củanhững người mà họ yêu mến hay những người họ phải nương tựa vào đểsống; xét cho cùng, trong tận đáy lòng, họ vãn cảm thấy thân thiết mếnyêu những người ấy và họ cũng thường ít khi có ý định nói lên những lờilẽ phiền rầy như vậy.

8.

Ngoài những hình thức của khuynh hướng tự gây khổ cho mình nhưtrên, chúng ta thấy có những hình thức khác của một khuynh hường đingược lại, đó là khuynh hướng thống trị hay gây khổ cho người khác(sadistic tendencies).

Khuynh hướng này thường gồm ba loại; loại thứ nhất là làm cho kẻkhác nương tựa vào mình và lấy quyền lực tuyệt đối vô hạn của mình đểchế ngự kẻ khác, làm kẻ khác trở nên những dụng cụ của mình. Loại thứhai chẳng những thích thống trị kẻ khác một cách tuyệt đối, mà lại cònthích khai thác, lợi dụng, đánh cắp, rút tỉa về mình những gì có thểrút tỉa được ở người khác. Tham vọng này chẳng những hướng về vật chấtmà còn cả những tính chất trí thức hay tình cảm của kẻ khác. Loại thứba là thích thú làm cho người khác đau khổ và nhìn người khác đau khổ.Hạng người này thích phỉ báng, sỉ nhục, gây khổ làm phiền muộn cho kẻkhác.

Đứng về phương diện xã hội, khuynh hướng tự gây khổ cho mình khôngnguy hại bằng khuynh hướng gây khổ cho người khác. Hạng người theokhuynh hướng gây khổ cho người khác thường ít có ý thức việc làm của họhơn là hạng người tự gây khổ cho mình và họ thường hay viện lý do bàochữa nhiều hơn.

Họ thường nuôi ảo tưởng tốt đẹp về họ; họ làm khổ kẻ khác, nhưng họcho rằng hành động ấy hợp lý vì họ viện lý rằng sở dĩ họ làm như thế vìhọ chăm sóc lo nghĩ nhiều đến kẻ khác, chẳng hạn họ lý luận đại loạinhư vậy: “Tôi đã tàn nhẫn với anh, tôi đã đè nén, cai trị anh, vì tôimuốn làm điều tốt cho anh và làm lợi cho anh, vậy anh phải tuyệt đốitheo tôi, không được chống cự lại, tôi hiểu anh, vân vân”. Hoặc họ cũnglý luận: “Tôi là thiên tài độc đáo, tôi có quyền đối xử với anh như thếnày, tôi có quyền đối xử với anh như thế kia, v.v.” Họ cũng viện lý đểbào chữa khuynh hướng lợi dụng khai thác của họ như vầy: “tôi đã giúpđỡ anh quá nhiều, bây giờ tôi được quyền lợi dụng anh những điều gì màtôi cần thiết.” Hạng người này cũng có kẻ hiếu chiến gây sự và thíchbiện lý đại khái như: “tôi đã bị người khác làm khổ nhiều; bây giờ tôiphải được làm khổ lại để trả thù”, “Tôi đánh anh trước là vì tôi muốntự bảo vệ và bảo vệ gia đình hay bị bạn bè tôi khỏi bị anh đánh, vânvân”.

9.

Trước khi nói rõ hơn về nguồn gốc của khuynh hướng này, chúng ta hãy xác định lại hai chữ “Masochistic” và “sadistic”. Chữ Masochistic là tĩnh từ của danh từ Masochism; thông thường trong tâm lý học, Masochismcó nghĩa là khuynh hướng tình dục ưa thích bị thống trị hoặc bị đối xửtồi tệ; khuynh hướng này thích bị người khác hành hạ mình, thích gâyđau khổ cho mình. Chữ Masochism xuất xứ từ tên của một tiểu thuyết giangười Áo, Von Sacher Masoch (1836 -1895); tác phẩm ông thường mô tả ámảnh bệnh hoạn về khuynh hướng này.

Chữ Sadistic là tĩnh từ của danh từ Sadism bởi chữ Pháp Sadismedo tên của văn sĩ Pháp là Marquis de Sade (1740 – 1814); người ta dịchSadism là “khuynh hướng bạo dâm”, Marquis de Sade là tác giả nhữngquyển tiểu thuyết mà những nhân vật đều tàn bạo thích thú gây đau khổcho người khác.

Chúng ta thấy rằng khuynh hướng đầu hàng hay khuynh hướng tự gâykhổ (masochism) và khuynh hướng thống trị hay khuynh hướng gây khổ chongười khác (Sadism) đều dùng để chỉ những xung động tình dục (xin đọcSatre trong L’Être et le Néant, trang 431-484).

Nhưng đến Fromm thì hai khuynh hướng này không giới hạn lại trongphạm vi tình dục mà lại bao quát cả một phạm vi; vì, đối với Fromm,nguồn gốc của hai khuynh hướng này là sự chạy trốn của con người trướccảm giác cô đơn và bơ vơ bất lực của mình. Hắn cô đơn quá đến nỗi khôngcòn chịu đựng được nữa và hắn liền chạy trốn trong hai khuynh hướngtrên hoặc khi thì chạy trốn vào khuynh hướng đầu hàng, khi thì chạytrốn vào khuynh hướng thống trị. Hắn không thể chịu đựng được nữa; hắnliền chạy tìm người khác hay một vật gì khác để cột buộc bản ngã hắnvào đó; làm như thế, hắn muốn quên mất đi bản ngã của mình và được cảmthấy an ninh bằng cách đánh mất cá tính của mình.

10.

Fromm dùng danh từ “Symbiosis” (tình trạng cộng sinh) để cọimục đích căn bản của khuynh hướng Sadism (gây khổ cho người) và khuynhhướng Masochism (tự gây khổ cho mình).

Trong nghĩa tâm lý học, “Symbiosis” (Hy lạp Sym là “với”, và bioslà “sống”, “sinh”) có nghĩa là kết hợp một bản ngã với một bản ngã khác(hay sức lực nào khác ở bên ngoài). Sự kết hợp này trở thành duy nhấtđến nỗi mỗi bên đều mất tính cách nguyên vẹn của mình và hai bên đềumất nương tựa vào nhau hoàn toàn.

Khuynh hướng Sadism mặc dù thoạt nhìn thấy khác khuynh hướng Masochism;nhưng đứng về mặt tâm lý học mà xét thì cả hai đều có khuynh hướng đềucó chung một nguồn gốc, một nhu cầu, cùng chung xuất phát từ sự bất lựccủa con người trước nỗi cô đơn của thân phận mình.

Người thích gây khổ cho kẻ khác cần kẻ khác để giải quyết sự chạytrốn của mình; cũng như người thích tự gây khổ cho mình cũng cần kẻkhác để hành hạ mình. Một bên tìm cách muốn chạy trốn bằng cách “nuốt”người khác, một bên tìm cách chạy trốn bằng cách để bị “nuốt”. Đó làtình trạng cộng sinh (Symbiosis). Trong cả hai trường hợp, tính cáchnguyên vẹn của cá tính đều bị đánh mất. Một bên thì chìm vào ngườikhác, một bên thì để người khác chìm vào mình. Tình trạng cộng sinh chỉđưa con người đến chỗ chết, trên phương diện vật chất hoặc tinh thần.

Tương quan cộng sinh xuất phát từ sự bất lực của con người trongviệc chịu đựng sự cô độc của bản ngã, cá tính mình. Vì thế, ta khônglấy làm ngạc nhiên khi thấy khuynh hướng Sadism và Masochism đều hoàtrộn lẫn nhau. Bên ngoài, hai khuynh hướng có vẻ như mâu thuẫn vớinhau, nhưng thực sự thì cả hai đều bám rễ nơi một nhu cầu khẩn thiếtcủa thân phận con người. Không ai là hoàn toàn có khuynh hướng Sadism,cũng không ai hoàn toàn chr có khuynh hướng Masochism; hai khuynh hướngnày luân phiên thay đổi nhau trong một người, khi một bên nhiều, khimột bên ít hoặc ngược lại; nhưng dù sao, trong cả hai trường hợp, sự tựdo của con người đã bị đánh mất. Mất theo cả bản ngã và cả nhân phẩmhay giá trị con người.

Bất cứ một triết lý hay một ý thức hệ nào được xây dựng trên mộttrong hai khuynh hướng trên đều không đáng gọi là nhân bản, vì cả haikhuynh huớng trên đều là những khuynh hướng chạy trốn sự tự do của conngười. “Escape from Freedom” (Fromm).

D. H. Lawrence có viết như vầy: “Sự chạy trốn không phải là một sựgiải quyết. Khi người ta chạy đi thực xa, người ta thấy rằng trái đấtthì tròn và nếu người ta tiếp tục chạy nữa thì sau cùng người ta thấymình vẫn còn đứng lại trước cửa nhà mình, đứng trước ngôi nhà mà mìnhđã chạy trốn. Đó là số phận con người”. (D.H. Lawrence, Etudes sur la littérature classique américaine, trang 178).

D. H. Lawrence đã nói một câu thấm thía và phải chăng chính D. H.Lawrence đã tự nói về mình? Và cũng nói luôn về mỗi một người trongchúng ta?
talawas.org

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s