THƯỚC ĐO CỦA TỰ DO

tạp văn của Bùi Văn Nam Sơn
Ông chủ lò bánh mì cố làm bánh mì thật ngon để bánđược nhiều và giữ chân khách hàng. Không ai chờ đợi hay đòi hỏi lòng vịtha ở đây cả. Nhưng, hàng triệu người “vị kỷ” như thế lại tạo nên sựphồn vinh chung cho xã hội. Đó là nguyên tắc vận hành của nền kinh tếthị trường tự do. Nhiều người cũng đồng ý với nguyên tắc ấy, nhưng vẫne ngại rằng sự tự do có thể bị lạm dụng, gây tổn hại đến người khác.

Từ “kinh tế tự do” đến “kinh tế thị trường xã hội”
Cách nhìn trước (phổ biến ở khu vực Anh – Mỹ) xem sựtự do sẽ khuyến khích hành vi tốt lành, độc lập với thiện ý chủ quan.Về lâu dài, cách hành xử tích cực ấy sẽ ngày càng được củng cố và nềnđạo đức xã hội nhờ đó cũng sẽ vững mạnh.
Cách nhìn sau (các nhà tư tưởng lục địa Âu châu) tánđồng quyền tự do cá nhân, với lòng tin rằng con người về căn bản là tốtvà sẽ sử dụng những quyền tự do cho điều tốt. Nhưng, khác với cách nhìntrước, ở đây, nhà nước có nhiệm vụ canh chừng, giảm thiểu hay dẹp bỏkịp thời những hậu quả ngoài ý muốn của việc lạm dụng quyền tự do.
Chỗ mạnh của cách nhìn Anh – Mỹ là không vì việc cóthể bị lạm dụng mà đi đến chỗ phủ định hay cản trở nguyên tắc tự do.Chỗ mạnh của cách nhìn Âu châu lục địa là ở chỗ không trọn tin vào nănglực tự điều chỉnh của cơ chế thị trường, với tên gọi là “bàn tay vôhình”. Do đó, hệ thống an sinh xã hội, khuôn khổ luật pháp chống độcquyền và cạnh tranh bất chính là những giải pháp bổ sung. Từ sau Thếchiến thứ hai, nhiều mô hình kinh tế khác nhau đã ra đời ở các lục địanhằm điều hoà hai yêu cầu ấy. Có cái tương đối thành công, có cái thấtbại, có cái đang được thử thách. Ở Tây Âu, mô hình đáng chú ý là nền“kinh tế thị trường xã hội”.
“Kinh tế thị trường xã hội” (soziale Marktwirtschaft)vốn là một khẩu hiệu từ năm 1949 của bộ trưởng Kinh tế và sau đó là thủtướng CHLB Đức Ludwig Erhard, thoạt đầu đối lập với khẩu hiệu của đảngcánh tả: “chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Nhưng đến năm 1959, cánh tả (đảngXã hội dân chủ Đức) cũng tiếp thu nhiều yếu tố của chủ trương này vàotrong cương lĩnh Godesberg nổi tiếng của đảng này, và từ năm 1990,“kinh tế thị trường xã hội” trở thành đường lối kinh tế chung của CHLBĐức và nhiều nước Tây, Bắc Âu. “Kinh tế càng tự do càng mang tính xãhội”, đó là tham vọng của mô hình này: kết hợp những quyền cố hữu củanền kinh tế thị trường (quyền tư hữu, tự do ký kết hợp đồng, tự do kinhdoanh, tự do tiêu thụ, tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do tham gia thịtrường và tự do cạnh tranh) với nhà nước pháp quyền và chế độ phúc lợixã hội hiện là mô hình đang bị cuộc khủng hoảng kinh tế thử thách quyếtliệt, nhưng dường như chưa thấy có khả năng thay thế.
Ôn lại lịch sử của công cuộc hiện đại hoá, bài học chothấy: các quyền tự do kinh tế cũng như các quyền tự do dân sự khác,trước hết, đều phải lấy việc giải phóng và khẳng định cá nhân làm điềukiện tiên quyết.
Đếm đầu tốt hơn là… chặt đầu!
Tôi không đồng ý với bạn, nhưng tôi đấu tranh để bạn được nói
Voltaire
“Hệ thống đơn giản và rõ ràng về sự tự do tự nhiên”(Adam Smith) trong đời sống kinh tế đi liền với phương diện chính trịnhằm giải phóng con người ra khỏi cấu trúc xã hội tiền – hiện đại. Đólà tiến trình xây dựng nhà nước thế tục (tách khỏi thần quyền), giớihạn quyền lực nhà nước bằng hệ thống các quyền căn bản của công dân,kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cơ chế phân quyền. Nhưng, trên hết vàtrước hết là thay thế sự biện minh cho quyền lực nhà nước bằng “thiênmệnh” hay “ân sủng của Thiên Chúa” bởi lợi ích thực tế của những cánhân riêng lẻ. Đơn vị hình thành nên xã hội, nhà nước bây giờ là từngcon người cá nhân, do đó, việc tôn trọng ý kiến, lợi ích của từng cánhân rút cục dẫn đến chế độ dân chủ.
Nền dân chủ hiện đại khác với nền dân chủ cổ đại vàcác chế độ phong kiến đặc quyền thời trung đại cả về lượng, chất lẫn cơchế thực hiện:
– Về lượng, nó mở rộng cho toàn dân, vì đặt cơ sở trên nguyên tắc bình đẳng của mọi nhân thân trong xã hội.
– Về chất, nó xác lập những quyền tự do cơ bản củanhân thân mà nhà nước không những không can thiệp mà còn tôn trọng sựthoả thuận tự nguyện của những cá nhân. Rồi ngay phạm vi cốt lõi nàycũng ngày càng được mở rộng: bên cạnh những quyền tự do kinh tế, còn cóquyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do báo chí, tự do lập hội, bímật thư tín, tự do hoạt động khoa học, nghệ thuật v.v.. Các quyền nàyđược khẳng định về mặt công pháp quốc tế trong hàng loạt công ước màhầu hết các nước thành viên Liên Hiệp Quốc đã ký kết (công ước quốc tếvà các quyền dân sự và chính trị; công ước về các quyền kinh tế và vănhoá, công ước về các quyền của trẻ em…). Với sự tham gia các công ướcnày, hầu hết các quốc gia trên thế giới (trong đó có nước ta) đã minhnhiên thừa nhận tính chất phổ quát và giá trị hiệu lực phổ quát củanhững quyền tự do cơ bản ấy, độc lập với hoàn cảnh và trình độ pháttriển của mỗi nước.
– Cơ chế thực hiện chế độ dân chủ hiện đại chỉ có thểlà nền dân chủ đại diện. Vấn đề là làm sao để nền dân chủ ấy thực sựmang tính đại diện và không lạm dụng quyền đại diện. Hơn hai trăm nămđầy những thăng trầm và thử nghiệm còn đọng lại hai công thức: phổthông đầu phiếu và “kiềm chế và cân bằng”. Ngay từ năm 1748,Montesquieu (1689 – 1755) đã từng lập luận rất giản dị và đanh théptrong Tinh thần của pháp luật: “Cùng một người hay một cơ quan nắm cảquyền lập pháp lẫn hành pháp thì sẽ không có tự do, vì họ sẽ vừa ban bốvừa thực thi những đạo luật độc tài. Tự do cũng không thể có, nếu khôngtách quyền tư pháp ra khỏi quyền lập pháp và hành pháp. Quyền quyếtđịnh sinh mệnh và sự tự do của công dân ắt sẽ vô hạn, nếu quyền ấy lạigắn liền với quyền lập pháp, bởi bấy giờ quan toà sẽ thành kẻ ban bốpháp luật. Và quan toà cũng ắt sẽ thành kẻ áp bức nếu cho ông ta nắm cảquyền hành pháp!”
Quyền của thiểu số: thước đo của tự do
Nền dân chủ với nguyên tắc đa số là một bước tiến lịchsử. Nhưng, bản thân nguyên tắc đa số không tự động bảo vệ được sự tựdo, vì nó dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ mị dân. Biếtbao chế độ độc tài, phát xít lên cầm quyền hợp pháp bằng con đường đasố! John Stuart Mill (1806 – 1873) (Bàn về tự do và Chính thể đại diện,NXB Tri Thức) và Alexis de Tocqueville (1805 – 1859) (Nền dân trị Mỹ,NXB Tri Thức) là hai người lên tiếng cảnh báo sớm nhất về nguy cơ “độctài của đa số”. Ngày nay, việc bảo vệ sự tự do và những quyền hạn chínhđáng của thiểu số ngày càng trở thành thước đo đích thực cho chất lượngcủa một nền dân chủ.
sgtt.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s