HUYỀN TÍCH MẠC TRÀ

 ký sự của Hoàng Hải
Trên đỉnh Tây Côn Lĩnh có một loài cây kỳ lạ,quanh năm làm bạn với mây trời ở độ cao từ 1.500 đến 2.000m, rễ bám sâuvào vách đá, loài cây kiên cường trong sương gió có tuổi thọ lên tớihàng trăm năm. Đó là cây San Tuyết.
Những chiếc búp non được trẩy về sao vàng làm nên Mạc trà có màu sắc và hương thơm kỳ lạ.

“Cao Tuyên thảo địa linh – Mạc trà cung đình ẩm”
Truyền thuyết đượclưu truyền trong dòng họ Mạc kể lại rằng sinh thời, Mạc Đăng Dung rấtthích uống một thứ lá cây kỳ lạ, được lấy từ trên đỉnh núi cao quanhnăm mây phủ của dãy Tây Côn Lĩnh. Ông biết đến thức uống này nhờ một kỳduyên. Thủa còn làm nghề đánh cá trên sông, một lần ông đuổi theo mộtcon cá khổng lồ, con cá như đã thành tinh, hết sức ma mãnh. Đã bao lần,chàng ngư phủ Mạc Đăng Dung tưởng tóm được nó nhưng rồi lại trượt.


Lễ rước đao Mạc Đăng Dung.

Mải mê săn đuổi cákhiến Dung quên cả thời gian, không biết bao nhiêu ngày đã trôi qua.Một buổi sáng thức dậy, Mạc Đăng Dung ngỡ ngàng trước một vùng trờinước uy nghiêm, núi non hùng vĩ. Dòng sông vốn hung dữ bỗng trở nênhiền hoà, mặt nước phẳng và xanh ngăn ngắt bảng lảng khói sương. Thấylạ, Dung cho thuyền dạt vào một quán vắng ven sông. Chủ nhà là một cụgià quắc thước, mắt sáng, râu tóc đều trắng như tuyết. Sau khi uốngxong ba bát nước, Mạc Đăng Dung thấy tinh thần đang rệu rã bỗng dưngsảng khoái, sức lực như được bồi bổ. Gạn hỏi, ông được biết đó là nướcđược nấu từ một loại lá cây trên mạn ngược chuyển về. Từ đó, ông dùngloại nước uống này hàng ngày. Tinh thần sảng khoái, sức lực tràn trề,khi đỗ lực sĩ, ông được sung vào quân túc vệ của nhà Hậu Lê đời Lê UyMục. Năm Đoan Khánh thứ 4 (1508), vua Lê Uy Mục giao cho ông làm Thiênvũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô.
Từ một người lính túcvệ, nhờ sức lực phi thường và trí óc mẫn tuệ, Mạc Đăng Dung đã xây dựnglên triều Mạc, một triều đại với rất nhiều biến cố thăng trầm, cho đếnnay vẫn còn nhiều điểm đánh giá chưa thống nhất.
Suốt những tháng nămsóng gió của cuộc đời mình, có hai vật luôn luôn gắn liền với ông. Đólà thanh long đao nặng 35 kg, hiện đang trưng bày tại Khu tưởng niệmVương triều Mạc, Dương Kinh – Hải Phòng (sau 500 năm chôn vùi dưới đất,trọng lượng vẫn còn 25,6kg) và trà San Tuyết. Mỗi buổi sáng, trước khiluyện đao hay thiết triều, ông thường uống ba chung trà và bốn chénrượu (phải chăng vì thế mà có câu “trà tam – rượu tứ”?) để tăng thêmsức lực và trí lực.
Cây Long đao hiện trưng bày tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc.
Truyền thuyết họ Mạccũng kể lại rằng trước lúc lâm chung ở tuổi 59, Mạc Đăng Dung sai mangđến bên mình thanh long đao và một chung trà lớn. Vì thế sau này, ngườita còn gọi trà San Tuyết là Mạc trà.
Nguyễn Dữ (sau được vua cho mang họ Mạc – Mạc Trí Hiền), một “thiên cổ kỳ bút” thời đó đã ca ngợi Mạc trà: “Cao Tuyên thảo địa linh – Mạc trà cung đình ẩm”.
Bí quyết Mạc trà
Câu chuyện trên tôinghe “vua cá sấu” Cao Văn Tuấn, một chuyên gia trong lĩnh vực đồ cổ củaHải Phòng kể vào một đêm đi tìm gỗ lũa Ngọc Am, sản vật được giới cổvật phong là đệ nhất kỳ mộc. Theo Cao Văn Tuấn, các chuyện này anh thuthập từ chính sử và cả dã sử trong những ngày đi lùng đồ cổ ở vùng núiHà Giang, Tuyên Quang. Cái truyền thuyết hư hư thực thực đã làm chàngdoanh nhân mê nghệ thuật Cao Văn Tuấn mê mẩn. Anh quyết tâm đi tìm bíquyết để phục hồi qui trình sản xuất, chế biến mặt hàng độc đáo này.
Theo Cao Văn Tuấn, bíquyết làm nên Mạc trà nằm ở ba yếu tố chính. Thứ nhất, đó phải là nhữngcây chè mọc trên núi đá, ở độ cao từ 1.300m so với mực nước biển trởlên, nơi khí hậu quanh năm mát mẻ, thỉnh thoảng có tuyết rơi và quanhnăm mây phủ. Thứ hai, cây chè phải là đại thụ, có tuổi đời không dưới100 năm. Những cây này thường không có nhiều búp và một năm chỉ cho búpvào hai vụ, mùa xuân và mùa thu. Búp chè mùa xuân nước xanh, hươngthơm. Búp chè mùa thu vị đậm và bền (được nước). Thứ ba, thời điểm háibúp chè. Đây là bí quyết quan trọng nhất. Muốn trà ngon, búp chè phảiđược hái vào đêm trăng, khi mây mù không bao phủ toàn bộ dãy Tây CônLĩnh. Mỗi vụ thu hoạch kéo dài khoảng 20 ngày nhưng tốt nhất là búp chèđược hái vào các ngày trăng non, tức là từ mùng 7 đến 17 âm lịch. Ngườidân địa phương gọi đây là thời điểm “uống trăng”. Búp chè uống “notrăng” khi sao tạo nên lớp tuyết mỏng. Bí quyết của việc sao tẩm chínhlà giữ được lớp tuyết trắng này. Nước trà rót ra chén có màu vàngtrăng, lấm chấm những hạt tuyết nhỏ, hương thơm và vị dịu. Nếu hái vàocuối mùa trăng, nước sậm màu và kém thơm dịu. Do sống ở nơi núi cao,không khí trong sạch nên San Tuyết không bị sâu bệnh tàn phá, việc phuncác loại thuốc bảo vệ thực vật là điều không thể xảy ra, nguồn nước chocây cũng chưa bị ô nhiễm.
Tuy nhiều nơi có chèSan Tuyết nhưng chè San Tuyết Phìn Hồ là ngon nhất, tất nhiên là phảiđược hái đúng thời điểm và tuân thủ một số bí quyết trong khâu sảnxuất, chế biến. Đây cũng chính là bí quyết sản xuất, chế biến Mạc tràtừ thời Mạc Đăng Doanh.
Để tưởng nhớ công đứctổ tiên, dòng họ Mạc tại Hải Dương – Hải Phòng đã phục chế thành côngsản phẩm này. Lễ dâng hương, tiến vua và báo cáo tổ tiên  được tiến hành ngày 19/8 âm lịch tại đền thờ Mạc Đăng Dung – TP. Hải Phòng.
Đặc điểm và công dụng Mạc trà
-Cây chè càng già chất trà càng quý. Số lần hái càng ít thì trà càngthơm ngon, tăng khả năng bổ dưỡng . Cây chè mọc ở độ cao càng cao thìcàng nhiều tuyết trắng và tính dược liệu quý càng mạnh.
-Tăng khả năng thần kinh trung ương, chống lão hoá; bổ gan, thận, chốngbéo phì…; Phòng chống nội chướng, phòng chống bệnh nhồi máu cơ tim,phòng chống viêm khẩu xoang, viêm yết hầu, viêm ruột, ngăn ngừa bức xạ;có khả năng hạn chế phát triển và có khả năng tiêu diệt các tế bào ungthư. Tăng tuổi thọ.
 dantri.com.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s