NHỮNG RANH GIỚI VĂN HỌC VÀ VĂN HỌC THẾ GIỚI

Daniel Henri Pageau
chuyển ngữ : Huỳnh Như Phương

 Phải thừa nhận là từ khởi điểm, nhà văn học so sánh quan tâm đến việc nghiêncứu tất cả những gì diễn ra từ một nền văn học này đến một nền văn họckhác; nhưng đồng  thời cũng phải thừa nhận  mụcđích sâu xa của văn học so sánh là vượt “lên trên” những ranh giới vàcó tham vọng trở thành một ngành nghiên cứu, một khoa học “liên quốcgia”, thậm chí “siêu quốc gia”, như một số sách giáo khoa đã nói (chẳnghạn công trình của Hugo Dyserinck và của Claudio Guillén).
Những kháiniệm này đã gây ra tranh cãi, nhất là khi người ta đưa ra một địnhhướng cho tinh thần so sánh  như  Robert Escarpit đã  đề nghị  ngay trong cuộc hội thảo đầu tiên của Hội Văn học so sánh Pháp, tổ chức ở Bordeaux  năm 1956, mà cho đến nay vẫn chưa mất đi  tính thời sự của nó. Robert Escarpit đã định nghĩa môn văn học so sánh như là một “ khoa học về sự khác biệt”. 




Ca tụng sự kháỞ thời điểm mới xuất hiện, một tính “siêu dân tộc” nào đó  đãgặp thuận lợi nhờ uy tín lớn lao của Gœthe. Vào cuối đời, trong mộtcuộc trò chuyện với Eckermann ngày 31 – 01 – 1827, Gœthe đã gợi ý vềmột nền văn học thế giới, một Weltliteratur. Từ đó, khái niệm này được sử dụng luôn mà không cần phiên  dịch.Người ta thường dẫn nó ra trong ngữ cảnh thích hợp. Gœthe đã suy nghĩvề một nền thi ca càng ngày càng trở thành “ di sản chung của toàn nhânloại”. Ông kết luận: “Nếu chúng ta cũng như những người Đức khác,không biết phóng tầm nhìn của mình vượt ra khỏi những gì gần gũi vâyquanh, thì chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào thói tự phụ có tính chất thôngthái rởm. Vì thế tôi muốn học tập  những nền văn hoá nướcngoài và tôi khuyên mỗi người đến lượt mình, cũng hãy làm như vậy. Ngàyhôm nay khái niệm Văn học dân tộc không còn  ý nghĩa bao nhiêu; chúng ta đang tiến bước về thời đại của văn học thế giới và mỗi người phải ra sức tìm mọi cách thúc đẩy để  ngày đăng quang của nó  nhanhtới. Nhưng trong khi đánh giá cao những gì tiếp thu từ nước ngoài,chúng ta không nên theo đuôi nó và cũng không lấy nó làm kiểu mẫu(…)Khichúng ta cần một mô hình kiểu mẫu, chúng ta luôn luôn phải trở về vớicác nhà cổ điển Hy Lạp qua những tác phẩm đã thể hiện con người trongvẻ đẹp cao nhất”.

          Chúng ta đang bước đi dựa trên cái đà phóng của tinh thần khát khao mộtnền văn học thế giới nhưng lại vẫn bám lấy cái mô hình Hy Lạp như làgiá trị duy nhất: đó là trào lưu tư tưởng kỳ lạ chứa đựng mâu thuẫngiữa tính năng động của một lời tuyên bố tao nhã và sự cứng nhắc củamột hệ quy chiếu thẩm mỹ và đạo đức. Tốt hơn là chúng ta hãy xem cái lýtưởng này ẩn khuất đằng sau một trào lưu tư tưởng chú tâm đến thời hiệntại và đến những vấn đề thời sự của lĩnh vực sáng tạo thơ ca: thừa nhậntính cấp thiết của việc mở cửa ra nước ngoài, nhưng đồng thời vẫn khôngngừng quay trở về với mô hình thời cổ đại.
Dù có đồng ý rằng khái niệm “văn học thế giới” này không thể được hiểu như  là một làng văn toàn cầu, một thứ điện Panthéon về văn học, một bản danh sách những tác phẩm best – sellers  đượctrao vòng nguyệt quế trên toàn thế giới, hay là những kiệt tác của nhânloại, thì dường như cũng rất khó có thể làm cho cái tư tưởng phóngkhoáng có tính chất duy tâm của Gœthe trở thành đối tượng hay mục tiêucủa nghiên cứu so sánh. Toàn bộ  các nền văn học này tất yếu khiến người ta suy nghĩ về nền văn minh thế giới, điều mà Claude  Lévi – Strauss đã gợi ra trong tác phẩm Chủng tộc và lịch sử, một nền văn minh mà ông xem là một “hình thức rỗng tuếch” và nó đã gợi ra cho ông những suy nghĩ sau đây: “Nềnvăn minh thế giới không thể là cái gì khác hơn ngoài sự liên minh ở quymô toàn thế giới những nền văn hoá vẫn giữ lại tính độc đáo của nó”.
Cũngcần lưu ý một nhận xét phóng khoáng và tinh tường của Pedro HenriquezUreňa, nhà tiên phong của lý thuyết so sánh ở Mỹ la-tinh,  trong một hội nghị năm 1921: “Lýtưởng của nền văn minh không phải là sự hợp nhất toàn thể nhân loaị ởmọi xứ sở mà là bảo tồn tất cả những sự khác biệt trong lòng một tổngthể hài hoà”.
Cầnxác định rằng khảo sát sự khác biệt không bao giờ loại trừ khả năng ghinhận, trong viễn cảnh nghiên cứu hay suy tưởng, cái lý tưởng cao quýcủa Gœthe hay đúng hơn cái lý tưởng về một tính phổ quát  thếgiới nào đó. Nhưng dường như sẽ có ích nếu chúng ta nhắc lại rằng nhànghiên cứu so sánh làm việc đồng thời trong “cái ở giữa” (l’entre) cũngnhư “cái bên trên” (l’au-dessus); “cái siêu” (le supra) cũng có ích như  “ cái liên” (l’inter)  hay cái “liên diện” (l’interface), theo cách nói bây giờ.
Hai trào lưu tư tưởng: “cái liên” (l’ inter) và “cái siêu” (le supra)
Trong một cuốn cẩm nang về mỹ học nhan đề Giữa cái đơn nhất và cái đa dạng(Entre l’un et le divers), Claudio Guillén đã xác lập sự liên tục củatư tưởng giữa “ tính siêu dân tộc” và “ lý luận văn học”. Ông đề xuấtba “mô hình’’ nghiên cứu làm nổi bật hệ vấn đề “ siêu dân tộc” và bắtđầu bằng cách hình dung những hiện tượng hay toàn thể “giả định một mốiquan hệ phát sinh”, do vậy những biểu hiện văn học vượt qua các biêngiới (đang tồn tại) như tiểu thuyết bợm nghịch (roman picaresque) đãbiết đến những hình thức có thể so sánh với những hình thức khai sinh ởTây Ban Nha. Ngành nghiên cứu này được gợi ý từ một loại “lịch sử vănhọc tổng quát ” và nó kêu gọi sự phân tích văn bản, cách đọc theo thipháp học so sánh là những  phương cách có thể làm nổi rõnhững tương đồng về hình thức với cái giá là phải chấp nhận một vài sơsuất hoặc sự suy diễn. Kế đó, nó tiếp cận những hiện tượng  “trongtiến trình độc lập về mặt phát sinh”, thuộc về những nền văn minh khácnhau nhưng hàm chứa những điều kiện xã hội – lịch sử giống nhau (ví dụtiểu thuyết phương Tây thế kỷ 18 và tiểu thuyết Nhật Bản thế kỷ 17).Cuối cùng, nó nhấn mạnh những hiện tượng “độc lập về mặt phát sinh”,bao gồm những “tập hợp siêu dân tộc” trong mối tương hợp với các nguyênlý và các luận điểm của lý luận văn học. Vấn đề là làm cách nào để ưutiên cho việc nghiên cứu các mối liên  hệ văn học Đông – Tây,  những mối quan hệ “phi thực chứng”;  bởivì ở đây không có “những trao đổi”, “những giao lưu”, nhưng ta có thểhình dung như là những tập hợp vừa khác nhau lai vừa có thể so sánh vớinhau trong thế song song (như văn bản, thể loại, hình thức v..v..).Phạm trù cuối cùng này khiến người ta suy nghĩ về những công việc màEtiemble khuyên làm, nhằm giúp nhà nghiên cứu so sánh thoát khỏi nhữngmẫu hình văn học châu Au và đưa ông ta tới những nghiên cứu về thi pháphọc so sánh.
Một viễn cảnh chung: những hằng thể
Ngaytừ năm 1957, trong một giáo trình khai giảng ở Đại học Sorbonne,Étiemble đã đề nghị một giả thuyết nghiên cứu dưới cái tên “ các hằngthể” (les invariants). Đó là khởi điểm để Adrian Marino, người Rumani,môn đệ xuất sắc nhất của Etiemble xây dựng thành một lý thuyết trongcác công trình Etiemble hay là thuyết so sánh chiến đấu ( Gallimard, 1982) và Thuyết so sánh và lý luận văn học( PUF, 1988 ). Trước khi giảng một giáo trình về “trào lưu tiền lãngmạn ở châu Au cuối thế kỷ 18”, trong đó ông điểm qua những chủ đề khácnhau ( thiên nhiên, cảnh vật, trạng thái tâm hồn, tình yêu, đam mê,định mệnh, cảm xúc, sự nhạy cảm, thời gian trôi chảy, những tàn phai…),Etiemble đã trích dẫn rất nhiều những câu thơ của các nhà thơ Trung Hoavào thời kỳ trước Công nguyên cho đến  đời Tống. Và rồi ông kết luận trong sách  Không phải cứ so sánh được là hợp lý (Comparaison n’est pas raison): “Nếutôi có thể làm sáng tỏ tất cả các chủ đề của trào lưu tiền lãng mạnchâu Au thế kỷ 18 bằng những trích dẫn từ thơ ca Trung Hoa trước Côngnguyên và 12 thế kỷ sau Công nguyên, thì rõ ràng là đã tồn tại nhữnghình thức, những thể loại, những hằng thể …”.
Giữalúc chủ nghĩa lịch sử ca khúc khải hoàn, có thể là thú vị khi đi tìmnhững “tương đồng độc lập của các mối quan hệ trực tiếp” hay còn gọi lànhững quan hệ thực tế. Nhưng cái hằng thể – “yếu tố chung và phổ quátcủa văn học hay của tư tưởng văn học” lại không thoát khỏi sự biện bạchbằng …những so sánh không phải là… hợp lý ấy.                  
Ở đây các yếu tố làm điểm xuất phát để thực hiện  sự so sánh  đãđược tập hợp bởi ý chí của riêng nhà nghiên cứu. Vả chăng, vấn đề là ítcó những trường hợp so sánh hơn là những trường hợp lặp lại, tái  diễntrong văn học. Không có sự tái xuất hiện trong những văn cảnh khác nhau(của những biến thể) thì sẽ không thể có những hằng thể.Vì vậy cho nênnhững yếu tố này hay yếu tố khác bị cô lập nhân danh sự trùng khít haysự tương hợp trong không gian và thời gian, nghĩa là nhân danh sự tươngđồng, sẽ càng trở thành dữ kiện  mơ hồ trong khi vấn đề làmiêu tả các yếu tố đó, tức là phân tích những đặc điểm thi pháp về hìnhthức và chất liệu. Giả sử rằng những hình thức được nghiên cứu đều nhưnhau dưới con mắt của nhà khoa học, thì những hình thức đó cũng hướngvề các tầng lớp công chúng khác nhau, chúng phát triển trong những nềnvăn hoá và những hệ thống văn học khác nhau. Thật khó mà chấp nhận rằngmột hình thức sử thi (hay là điều mà nhà nghiên cứu châu Au gọi là sửthi) lại có thể có cùng chức năng khi nó còn được thể hiện ở châu Phihay được đọc ở châu Au, như  với Iliade hay Henriade
         Chúng ta sẽ tìm thấy một vấn đề khá cũ kỹ được minh hoạ bởi một thí dụcụ thể. Người ta có thể thừa nhận rằng bánh xe ngựa La Mã có gì đótương tự với bánh xe hơi, nhưng thật khó mà so sánh chúng với nhau, trừkhi ta nói rằng chúng dùng để di chuyển. Phải chăng di chuyển trên conđường La Mã cổ xưa cũng giống như trên con đường ô tô ngày nay? Xintrích dẫn “xuất xư” của nhận xét này: “ Từ thời cổ xưa, xe cộ cũng dựa trên mộtcông thức duy nhất và giống nhau: những trục xe, những bánh xe, mộtkhung xe. Tuy thế, chiếc xe ngựa của nhà quý tộc cổ La Mã thì phù hợpvới sở thích và nhu cầu của ông ta, cũng như chiếc xe ngựa của bá tướcOrlov. Còn chiếc xe ngựa của người mu-gich thì thích hợp với nhu cầuhoạt động kinh tế của anh ta. Xe hơi là một sản phẩm của kỹ thuật hiệnđại, nhưng nó cũng thể hiện cùng một công thức: bốn bánh xe đặt trênhai trục xe, tuy thế mỗi khi đêm về, trên các nẻo đường của nước Nga,con ngựa của người mu-gich lại hoảng sợ né tránh những chiếc đèn phacủa xe hơi; cảnh ấy phản ánh mối xung đột của hai nền văn hoá”.
Ở đây chính L. Trotski đã tranh luận với quan điểm hình thức chủ   nghĩa   củaVictor Chklovski và bài học về thuyết so sánh (sự xung đột giữa hai nềnvăn hoá) cũng là bài học lý luận văn học đầy đủ và trọn vẹn: “hằng thể”  của cái bánh xe vận hành một cách khác nhau trong những bối cảnh khác nhau.
 Những ranh giới  ngôn ngữ, văn hoá và văn học
Vănhọc tổng quát và so sánh, trong khi chú ý đến chiều kích bên ngoài, đãbiến những đường ranh giới thành một trong những đối tượng để khảo sátvà suy nghĩ. Khái niệm “văn học dân tộc” chắc chắn là có tính thực tại(còn hơn cả khái niệm văn học “thế giới”). Tuy thế, cần phải lưu ý rằngchiều kích dân tộc vẫn còn mơ hồ, thậm chí còn bị nghi ngờ ở châu Phivà châu Mỹ la-tinh. Nhìn chung, những dữ kiện ngôn ngữ, lịch sử, vănhoá thường dẫn đến việc xem xét lại những không gian thống nhất: một hệthống chính trị (Nhà nước), một thực tế lịch sử, chính trị, xã hội, đạođức (quốc gia), một thực tế ngôn ngữ và văn hoá (văn học) không thểđồng nhất mà cũng không thể áp đặt lên nhau.
°Thuyết so sánh “bên trong”: Chúng ta nên suy nghĩ về khái niệm thuyết so sánh “bên trong” hay còn gọi là “thuyết so sánh  liêndân tộc”, hoặc trong những trường hợp như nước Pháp, “thuyết so sánhkhu vực”. Basil Munteano đã tỏ ra quan tâm đến vấn đề trên ngay từ Đạihội lần thứ nhất hội Văn học so sánh Pháp tổ chức ở Bordeaux (Văn học tổng quát và lịch sử tư tưởng Littérature générale et histoire des idées, Didier, 1956, p.22 ). Ông đưa ra những thí dụ, như  Racineđược giải thích bởi những nhà lãng mạn Pháp, Marivaux qua lăng kính củaAnouilh hay thơ ca của Mistral trong toàn cảnh văn học Pháp. Một vàinăm trước đó, các công trình của Robert Lafont, chuyên gia về các nềnvăn hoá địa phương ở miền Nam nước Pháp, đã gợi ra những  chủ đề tương đối quan trọng khi  dựa trên những so sánh có tính chất “khu vực”  (chẳng hạn so sánh Jocelyn  của Lamartine với Mireille củaMistral). Những so sánh này chưa thành những quy chế chính xác trongmôi trường so sánh luận, vốn có thể biến những mảnh vụn ngôn ngữ và vănhoá thành đối tượng nghiên cứu. Với những thí dụ như trên, nên chăng cóthể có một phác thảo về “văn học tổng quát và so sánh” chung cho cácnhà Pháp học và các nhà so sánh, một lĩnh vực nghiên cứu chung, mộtmảnh đất của những cuộc gặp gỡ hơn là những cuộc tranh cãi.
         Ngày nay thuyết so sánh “bên trong” được nhiều người ủng hộ, như nhà so sánh  AchentinaNicolas Dornheim, người nhấn mạnh tầm quan trọng của một so sánh đíchthực theo chiều kích “dân tộc” đối với các nước thuộc châu My (RLC,1992/1, số đặc biệt về “châu Mỹ latinh và ngành so sánh văn học”). Dotác động của sự lai tạp về văn hoá, chẳng hạn tác động của các nền vănhoá truyền thống đối với Braxin  hay các ảnh hưởng ngoại lai đối với Braxin và Achentina,tự bản thân những xứ sở này đã  là những địa bàn  nghiên cứu và khảo sát  độcđáo. Ở đây vấn đề không phải là giải thích thuyết so sánh này bằng phạmvi không gian của đất nước được xem xét. Một không gian văn hoá- đảogiản lược như  Puerto Rico ( nơi  biết nhiều  về sự tiếp biến văn hoá Bắc Mỹ)  cũng có thể minh chứng cho một cách tiếp cận tương tự, nếu người ta nghĩ đến cái định nghĩa đầy hình  tượng mà Rosé Louis Dominguez đã nói : “Đó là một đất nước có 4 tầng”.
 °Từ cái địa phương đến cái thế giới:Như thế, những quan niệm mới về so sánh hay những cấp độ nghiên cứu vănhọc so sánh có thể được hình thành từ quy mô địa phương , nghĩa là quymô của những truyền thống văn học địa phương, văn học truyền khẩu, cácngôn ngữ bản xứ ( đối với một lục địa như châu Phi và trong một kíchthước nhỏ nhất là tiểu lục địa thuộc châu Mỹ), cho đến quy mô toàn châulục, thậm chí liên lục địa, vượt qua quy mô quốc gia, vốn được sắp xếplại một cách mạnh mẽ từ thế kỷ thứ 19 ở châu Mỹ ( trường hợp những thayđổi về biên giới, thực tế các “vùng” văn hoá hay các trung tâm đô thịtách biệt các vùng nông thôn) , cũng như ở châu Phi, nơi mà “tình cảmdân tộc”, tình cảm của “ quốc gia nhiều tầng” còn rất mơ hồ. Vì vậy,cần phác hoạ những chiều kích mới có tính chất “quốctế” và chính xác làchiều kích  thế giới hơn những chiều kích vốn là kết quả của những công trình trừu tượng  haylý thuyết. Để định nghĩa phạm vi của thuyết so sánh mới này, chúng tacó thể tìm thấy một công thức sáng tỏ của nhà văn Bồ Đào Nha MiguelTorga: “Cái thế giới, đó chính là cái địa phương không có những bức tường”.
         Những biên giới khác có thể được phác họa vào cùng một thời gian vàgiữa một không gian được gọi là “quốc gia” trong một số trường hợp hoặccó tính chất tưởng tượng, hoặc lắp ghép vào những không gian khác: nềnvăn học được gọi là lục địa ( như văn học Mỹ Latinh), văn học thế giớithứ ba, văn học liên dân tộc chủ nghĩa, bao gồm cả những cả những tậphợp về hình thức có tính chất đơn ngữ ( như văn học các nước nói tiếngPháp, văn học các nước nói tiếng Tây Ban Nha..), trên thực tế, cung cấpnhững lịch sử  khác nhau, những tầng  văn hoákhác nhau. Cuối cùng, tuy chúng ta không chơi chữ ở đây, nhưng cũng cóthể nói đó chính là những ranh giới của văn bản văn học có thể được đemra nghiên cứu ( chẳng hạn khái niệm cận văn bản – paratexte – là kháiniệm quan trọng cho việc tiếp nhận một tác phẩm), hay như người tathấy, với khái niệm tính liên văn bản, đã xuất hiện một thuyết so sánhmới ở ngoài văn bản.
         Văn học tổng quát và so sánh sẽ không biết tự giới hạn ở những so sánhhay là những trò chơi có hay không có ranh giới. Nó đã được xác định từđầu thế kỷ 20 bởi một loạt các công trình nghiên cứu chuyên biệt, từnhững nghiên cứu truyền thống về các mối tương quan văn học quốc tế chođến những vấn đề thi pháp văn học so sánh. Một cách thận trọng, nó cũngcó tham vọng  khai phá các viễn cảnh lý luận.
 Từ so sánh đến lý luận
Mở đầu cuốn  Văn học so sánh giản yếu ( PUF, 1989), Pierre Brunel đã đề nghị ba quy luật từ đó có thể định nghĩa  một phương pháp so sánh:
1. Quy luật xuất hiện ( La loi d’émergence): Mối quan tâm của nhà so sánh dường như  “được đánh thức” bởi “sự xuất hiện của một từ lạ”, bởi một yếu tố huyền thoại trong văn học  haynghệ thuật, bởi sự tồn tại của những ám chỉ hàm ngôn hay hiển ngôn, bởinhững điểm khởi đầu cho các quá trình nghiên cứu khác nhau, từ hìnhtượng  cho đến hệ chủ đề và việc nghiên cứu những huyền thoại.
2. Quy luật linh hoạt ( La loi de flexibilité): Vấn đề  là“sự mềm dẻo và sự kháng cự của yếu tố lạ trong văn bản”. Vừa thíchnghi, lại vừa kháng cự, yếu tố đó nhạy cảm với mọi biến động. Trong khitrích dẫn câu nói của Roland Barthes: “ Mọi văn bản là một tấm vải mới được dệt bằng những câu văn cũ”,P. Brunel đã đưa người nghiên cứu hướng tới việc khảo sát tính liên vănbản, trong đó ông ta theo đuổi những mô thức sát nhập một yếu tố thuộcvăn bản này vào một văn bản mới hay một văn cảnh mới.
3. Quy luật  lan toả ( La loi d’irradiation) :Yếu tố lạ trong văn bản có thể được xem như một điểm lan toả – khi thìrõ ràng như trong trường hợp các văn bia, khi thì bí mật và ẩn chìm  dưới một  hậucảnh của văn bản và nó chỉ có thể được khảo sát nhờ vào việc nghiên cứumột yếu tố lạ, trong khi đó chúng ta không quên rằng sự vay mượn  luôn luôn là một mối đe doạ và có thể  làm giản lược tính độc đáo của nguyên bản .
Trênđây là những đề nghị có tính chất gợi ý cho việc nghiên cứu so sánh.Trong khi vươn tới những viễn cảnh chung, văn học tổng quát và so sánhđã hoàn tất một chặng đường có ý nghĩa: là một bộ phận của nghiên cứulịch sử, nó đã bị vượt qua bởi sự phân tích thi pháp học và nó hướng vềmột suy tưởng lý thuyết. Vì vậy, người ta có thể nhớ lại rằng RolandBarthes trong cuốn sách Bài học ( Le Seuil, 1977) đã giới thiệu ba “sức mạnh” của văn học mà ông gọi là mathésis, mimesissemiosis , ba khái niệm không phải là không liên quan với chặng đường vừa được kể ra.
Người ta hiểu rằng vấn đề không phải là những trạng thái kế tục, phản ánh những bước tiến của  nhận thức như chúng ta có thể lấy thí dụ từ Lời phi lộ  Từ điển bách khoacủa Alembert, người đã muốn tính đến những bước đi của trí tuệ conngười bằng cách phân biệt trước hết là học vấn rồi đến văn chương vàcuối cùng là triết lý. Đúng hơn, vấn đề là những cấp độ của suy tưởngkhi xác định những giai đoạn, những thời kỳ của một công trình nghiêncứu.
Một môn học đa dạng
Trênthực tế, không có “ một” lý thuyết so sánh văn học: bởi vì có biết baonhiêu xứ sở mà ở đó lý thuyết này có thể tự khẳng định. Thật vậy, bởivì văn học tổng quát và so sánh không thể hoàn toàn tách rời với việcnghiên cứu văn học thực tiễn , do các chuyên gia của nền văn học dântộc tiến hành, cho nên điều dễ hiểu là ở Pháp, môn học này không pháttriển giống như ở một đất nước khác, nơi mà việc nghiên cứu văn học“dân tộc” diễn ra trong một hoàn cảnh khác.Tính đến những điểm xuấtphát đa dạng và do vậy những quỹ đạo khác nhau, văn học tổng quát và sosánh không thể có cùng một phương diện đồng dạng, cũng như không có sựthực hành tương tự từ nước này đến nước khác, mặc dù có sự quan tâmchung giống nhau. Nó là sự minh hoạ tốt nhất  cho những vấn đề của chính nó. Nhân danh  bản chất và sự phát triển đa dạng của nó, nhân danh những tên gọi hoặc kế tục, hoặc khác nhau của nó,  văn học tổng quát và so sánh là một điều không  tưởngthực sự về mặt phương pháp luận. Trong khi xây dựng một hệ vấn đề khôngthuộc về bất kỳ một văn bản nghiên cứu nào mà là thuộc về mối quan hệriêng với từng văn bản, văn học tổng quát và so sánh giống với cáikhông tưởng được nhà ký hiệu học Louis Marin định nghĩa như là cáitrung tính, không  giống cái, cũng không  giống đực mà đồng thời là cả hai (Những kẻ không tưởng : trò chơi của các không gian,Minuit, 1973). Được xây dựng từ giao điểm của những tập hợp mà ở đó mỗibộ phận đều có đặc trưng riêng, văn học so sánh được nuôi dưỡng bởinhững cuộc hội thảo, giao lưu, gặp gỡ và trao đổi không ngừng…
                                            Dịch từ La littérature générale et comparée
                                                của Daniel – Henri Pageaux,
                                                Armand Colin xuất bản, 1994
 khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s